Bài chờ đăng - Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

Bài chờ đăng

Đăng ngày:20/09/ 2022

KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG KHAI THÁC, TIÊU THỤ VÀ NUÔI ỐC BƯƠU ĐỒNG (Pila polita) Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Lê Văn Bình1* và Ngô Thị Thu Thảo2

1Nghiên cứu sinh khóa 2015 – Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ
2Khoa Thuỷ sản, Trường Đại học Cần thơ

Tóm tắt:

Nghiên cứu này thực hiện nhằm khảo sát hiện trạng khai thác, tiêu thụ và nuôi ốc bươu đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long và được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2019, thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 138 cán bộ quản lý, hộ nuôi ốc bươu đồng, hộ khai thác và cơ sở thu mua, buôn bán. Kết quả cho thấy ốc bươu đồng phân bố ở thủy vực nước tĩnh cao hơn so với thủy vực nước chảy và ruộng lúa, ốc sống tập trung ở tầng mặt vào buổi tối và buổi sáng, sống chủ yếu ở vùng nước có độ sâu từ 60-150 cm. Mật độ, sản lượng ốc bươu đồng giảm dần theo theo thời gian, đặc biệt giảm mạnh từ giai đoạn 2015 đến nay.  Thời gian khai thác nhiều nhất là mùa mưa từ tháng 5 – 10 hàng năm, sản lượng khai thác trung bình 9,54 kg/hộ/ngày (tương đương 1717 kg/hộ/năm). Thị trường tiêu thụ chủ yếu bán tại các vựa thu mua nhỏ lẻ (70,8%), kế đến người dân bán trực tiếp cho người tiêu dùng với 20,0%, số ít còn lại bán trực tiếp vựa lớn là 9,2%. Diện tích nuôi ốc bươu đồng trung bình của hộ là 294,5m2, trung bình tỉ lệ sống (66,0%) và kích cỡ thu hoạch (28 con/kg), năng suất là 1,40 kg/m2.

Từ khóa: Đồng bằng sông Cửu Long, Ốc bươu đồng, Sản lượng khai thác, Thị trường tiêu thụ.


ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ DÒNG/ GIỐNG HOA HIÊN (Hemerocallis sp.) TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI

Phạm Thị Minh Phượng1*, Phạm Thị Bích Phương1, Nguyễn Anh Đức1, Nguyễn Xuân Trường2

1 Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Viện sinh học nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu được thực hiện nhằm lựa chọn vật liệu mới có các đặc điểm nổi trội về khả năng sinh trưởng, màu sắc, hình dạng và kích thước hoa phục vụ công tác phát triển giống hoa Hiên trang trí ở Việt Nam. Thí nghiệm được bố trí tuần tự không nhắc lại trên 16 dòng hoa Hiên lai và 3 giống hoa Hiên. Mỗi dòng/giống trồng 15 khóm, mỗi khóm 2 thân. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm chiều cao cây (cm), số lá/thân, số ngồng/thân, kích thước ngồng (cm), số nụ/ngồng, khối lượng nụ (g), kích thước hoa (cm)… Kết quả cho thấy tất cả các dòng/giống hoa Hiên đều có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt tại Hà Nội. Chiều cao cây từ 46cm (193-9) đến 116,3cm (133-13), chiều cao ngồng hoa từ 38,7cm (193-9) đến 110 cm (133-5), đường kính hoa từ 12,5cm (NB2) đến 18,5cm (133-13). Màu hoa thuộc 3 nhóm đỏ, vàng và cam với cách phối màu đa dạng trên cánh hoa. Độ bền một ngồng hoa từ 7 ngày (188-1) đến 21 ngày (133-3) và độ bền khóm hoa từ 12 ngày (NB2)  đến 31 ngày (133-3). Dựa trên các thông số về sinh trưởng và phát triển của cây hoa Hiên, 12 dòng/giống triển vọng đã được lựa chọn gồm 193-3, 183-4, 188-1, 133-3, 133-8, 133-10, 133-13, K15, K16, 133-12, NN03 và KC19.

Từ khóa: Hoa Hiên, Hemerocallis, sinh trưởng, phát triển.


PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH RAU QUẢ CỦA ẤN ĐỘ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Nguyễn Thị Bình

Trường Đại học Ngoại thương

Tóm tắt:

Mục tiêu của bài viết là đánh giá thực trạng chuỗi ứng lạnh rau quả của Ấn Độ, từ đó rút ra các bài học và hàm ý chính sách hướng tới sự phát triển bền vững của ngành rau quả Việt Nam trong thời gian tới. Để đạt mục tiêu trên, tác giả đã tiến hành nghiên cứu các tài liệu liên quan đến chuỗi cung ứng lạnh nói chung và chuỗi cung ứng lạnh rau quả của Ấn Độ và Việt Nam nói riêng. Đồng thời tác giả sử dụng phương pháp phân tích nội dung để trích xuất các dữ liệu cần thiết, cũng như phân loại dữ liệu phù hợp với mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu đặt ra. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy tắc vận hành trong chuỗi cung ứng lạnh cùng với quy hoạch lại cơ sở tầng trong chuỗi (kho lạnh, vận tải lạnh) kết hợp với ứng dụng công nghệ thông tin và đào tạo nhân lực, là các kiến nghị quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng lạnh rau quả của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu được kỳ vọng sẽ cung cấp một số hiểu biết sâu sắc cho các nhà hoạch định chính sách trong đề xuất giải pháp nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng rau quả toàn cầu.

Từ khóa: Chuỗi cung ứng lạnh, kho lạnh, rau quả, Ấn Độ.


THIẾT KẾ HỆ THỐNG CRISPR/CAS9 BẤT HOẠT OsNRAMP5 LIÊN QUAN TỚI TÍCH LŨY CADMIUM Ở LÚA TBR225

Ngô Thị Vân Anh1, Nguyễn Anh Minh2, Phạm Thu Hằng2, Phạm Phương Ngọc2, Lê Quỳnh Mai3, Phạm Xuân Hội2, Nguyễn Duy Phương2*

1Học viện Nông nghiệp Việt Nam,
2Viện Di truyền nông nghiệp,
3Đại học Khoa học tự nhiên – ĐHQGHN

Tóm tắt:

Cadmium (Cd) có độc tính rất cao đối với hầu hết các sinh vật sống, bao gồm cả con người. Lúa gạo chứa hàm lượng Cd vượt ngưỡng (0,2 mg/kg – QCVN 8- 2:2011/BYT) là một trong những nguyên nhân chính gây ngộ độc Cd. OsNRAMP5 thuộc họ NRAMP (natural resistance-associated macrophage protein) đã được xác định có liên quan tới quá trình vận chuyển nhiều kim loại như sắt (Fe), kẽm (Zn), đồng (Cu), mangan (Mn) và Cd ở lúa. Để phục vụ nghiên cứu chức năng OsNRAMP5, chúng tôi đã đánh giá biểu hiện của gen đích và thiết kế hệ thống CRISPR/Cas9 (Clustered Regular Interspaced Short Palindromic Repeats/CRISPR-Associated Cas9) gây đột biến bất hoạt OsNRAMP5 của giống lúa chủ lực TBR225. Bằng phương pháp xử lý nhân tạo trong dung dịch trồng thủy sinh có bổ sung Cd, OsNRAMP5 đã được chứng minh tăng cường biểu hiện ở mô rễ lúa TBR225. Một phần trình tự chứa ExonI của OsNRAMP5 dài 0,29 kb đã được phân lập để phục vụ thiết kế sgRNA (single guide RNA) cho hệ thống CRISPR/Cas9 bất hoạt OsNRAMP5. Cấu trúc biểu hiện sgRNA mang hai trình tự crRNA (CRISPR RNA) nhận biết ExonI OsNRAMP5 đã được ghép nối vào vector nhị thể pCas9. Vector tái tổ hợp đã được kiểm tra bằng PCR và giải trình tự Nu. Kết quả nghiên cứu là tiền đề cho cải tiến chất lượng giống lúa chủ lực TBR225 bằng công nghệ chỉnh sửa hệ gen.

Từ khóa: Bất hoạt gen, Cadmium, CRISPR/Cas9, OsNRAMP5, TBR225.


HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH Ở CÁC HỢP TÁC XÃ TRỒNG CÂY ĂN QUẢ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

Vũ Thị Hải*, Phí Thị Diễm Hồng, Trần Quang Trung, Lê Thanh Hà, Bùi Thị Mai Linh

Khoa Kế toán và QTKD, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu tập trung vào đánh giá thực trạng và hiệu quả kinh tế ứng dụng công nghệ cao dựa trên khảo sát tại 50 hợp tác xã trồng cây ăn quả trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Các hợp tác xã được phân nhóm theo mức độ áp dụng công nghệ cao trong năm khâu chính của hoạt động sản xuất kinh doanh. Phương pháp phân tích thống kê và phân tích ANOVA một chiều được sử dụng để kiểm định sự khác biệt về hiệu quả kinh tế giữa các nhóm hợp tác xã. Kết quả cho thấy mức độ áp dụng công nghệ cao tại các hợp tác xã còn thấp, chủ yếu tập trung vào khâu đầu vào và khâu sản xuất. Hiệu quả kinh tế của các hợp tác xã áp dụng công nghệ cao ở các mức độ khác nhau có sự khác biệt rõ rệt về tổng doanh thu, CP lợi nhuận của hợp tác xã. Nhóm hợp tác xã áp dụng công nghệ cao ở mức độ 3 và 4 có hiệu quả cao hơn so với nhóm áp dụng ở mức độ 1 và 2. Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp về vốn, thị trường, cơ sở hạ tầng, đất đai… nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế ứng dụng công nghệ cao của  hợp tác xã trồng cây ăn quả trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

Từ khóa: Hợp tác xã, Hiệu quả kinh tế, Công nghệ cao.


NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ BỘ ĐIỀU KHIỂN CHIẾU SÁNG THÔNG QUA ỨNG DỤNG BLYNK VÀ MẠNG WIFI

Đào Xuân Tiến*, Nguyễn Thị Huyền Thanh, Nguyễn Xuân Trường

1Khoa Cơ Điện, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu nhằm mục tiêu thiết kế, chế tạo bộ điều khiển chiếu sáng có khả năng điều khiển, điều chỉnh độ sáng các thiết bị chiếu sáng từ xa thông qua ứng dụng Blynk và mạng wifi. Bộ điều khiển trong nghiên cứu được thiết kế chế tạo với phần cứng dựa trên việc sử dụng kit Arduino Nano, module ESP 8266 và module cảm biến BH1750 thông qua thuật toán được lập để thực hiện mục tiêu chính là điều khiển độ sáng của đèn 220V trên ứng dụng điện thoại di động. Kết quả, thử nghiệm đối với các đèn sợi đốt, đèn compact, đèn led 220V cho thấy bộ điều khiển hoạt động tốt, các đèn đều có thể điều khiển được từ xa ở bất cứ đâu có mạng wifi theo phương pháp bật/tắt. Riêng đối với các đèn sợi đốt và đèn led có thể điều chỉnh độ sáng đèn từ xa trên điện thoại. Phạm vi điều chỉnh độ sáng từ 0 đến 100% quang thông của đèn. Bộ điều khiển cũng cho phép tự động điều chỉnh độ sáng đèn theo độ sáng môi trường đảm bảo ổn định độ sáng theo giá trị đặt trước. Ngoài ra, trên bộ điều khiển còn có các nút điều khiển vật lý đồng bộ với các nút ảo của ứng dụng Blynk trên điện thoại, giúp điều khiển linh hoạt, tiện lợi và tiết kiệm năng lượng hơn.

Từ khóa: Điều khiển chiếu sáng, tự động điều chỉnh, điều khiển từ xa.


TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG TRỒNG SEN VÀ TIỀM NĂNG
ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM SEN CỦA NÔNG HỘ

Ngô Ngọc Tồn1, Lê Ngọc Danh2, Huỳnh Thị Thu Linh3, Hà Trần Như Anh4, Trần Thanh Chúc4

1 Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
2 Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Trồng sen đã và đang góp phần nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, nhưng sự phát triển của hoạt động trồng sen chưa tương xứng với tiềm năng của nó. Các sản phẩm chủ yếu được bán dưới dạng thô nên giá trị sen thấp, kênh tiêu thụ thiếu tính ổn định và bền vững. Bài tổng quan này sẽ cung cấp các thông tin có ý nghĩa khoa học và thực tiễn về tình hình sản xuất và tiêu thụ sen, tiềm năng đa dạng hóa sản phẩm sen, cũng như những rào cản trong hoạt động sản xuất và đa dạng hóa sản phẩm sen tại Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy, nông hộ trồng sen hoàn toàn có khả năng đa dạng hóa các sản phẩm nhằm gia tăng giá trị sản phẩm, nhưng phương thức sản xuất và tiêu thụ truyền thống vẫn đang được duy trì. Nông hộ vẫn đang vật lộn với nhiều khó khăn trong sản xuất và thị trường đầu ra và hoạt động đa dạng hóa sản phẩm chưa được chú trọng. Đang còn tồn tại một khoảng cách lớn giữa sản phẩm thực tế so với tiềm năng đa dạng hóa sản phẩm sen của nông hộ. Khoảng cách này chỉ được rút ngắn nếu có sự can thiệp từ bên ngoài.

Từ khóa: Đa dạng hóa, nông hộ, rào cản, trồng sen, tiêu thụ sen.


PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT GIỮA CÁC MÔ HÌNH TRỒNG NHÃN
Ở TỈNH HƯNG YÊN

Nguyễn Đức Trung1, Nguyễn Viết Đăng2, Quyền Đình Hà3

1 Nghiên cứu sinh Khoa Kinh tế và PTNT, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2,3 Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu thực hiện nhằm phân tích hiệu quả sản xuất giữa các mô hình trồng nhãn khác nhau (Hộ gia đình, Trang trại, Hợp tác xã) và ở các vùng trồng nhãn khác nhau (vùng trồng nhãn tập trung và vùng trồng nhãn phân tán) trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Từ đó đề ra các giải pháp, chính sách phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trồng nhãn ở Hưng Yên. Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp kết hợp với nguồn số liệu sơ cấp thông qua việc phỏng vấn 180 cơ sở trồng nhãn (60 phiếu hộ gia đình, 60 phiếu trang trại và 60 phiếu thành viên của Hợp tác xã/Tổ hợp tác). Kết quả nghiên cứu cho ta thấy, trồng nhãn theo mô hình Hợp tác xã/Tổ hợp tác mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất: giá trị gia tăng trung bình theo mô hình Hợp tác xã/Tổ hợp tác là 199,76 triệu đồng/ha/năm, cao hơn so với mô hình trang trại (167,41 triệu đồng/ha/năm) và mô hình hộ gia đình (138,43 triệu đồng/ha/năm) và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05); Hiệu quả trồng nhãn ở vùng tập trung cao hơn so với trồng nhãn ở vùng phân tán: năng suất trung bình trồng nhãn ở vùng tập trung đạt 12,45 tấn/ha, cao hơn năng suất trung bình ở vùng vùng phân tán 12,03 tấn/ha và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05); giá trị gia tăng trung bình trồng nhãn vùng tập trung là 179,41 triệu đồng/ha/năm, cao hơn so với trồng nhãn vùng phân tán là 157,65 triệu đồng/ha/năm và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05).

Từ khóa: Mô hình trồng nhãn, giải pháp nâng cao hiệu quả trồng nhãn, nhãn Hưng Yên.


PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP NÔNG HỘ
CANH TÁC TÔM – LÚA TẠI HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

Ngô Ngọc Tồn1, Lê Ngọc Danh2, Huỳnh Thị Thu Linh3, Hà Trần Như Anh4, Trần Thanh Chúc4

1Giảng viên trường Đại học Kiên Giang
2Nghiên cứu sinh trường Đại học Cần Thơ, Giảng viên trường Đại học Kiên Giang
3Giảng viên trường cao đẳng nghề Kiên Giang
4Sinh vên Khoa Kinh Tế, trường Đại học Kiên Giang

Tóm tắt:

Bài viết sử dụng phương pháp thống kê mô tả, hồi quy đa biến xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ canh tác tôm – lúa tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Sau khi thu thập và xử lý số liệu, kết quả điều tra 304 nông hộ tìm ra 9 yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ bao gồm: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, số năm kinh nghiệm, số lượng lao động, diện tích, giống được kiểm định, vay vốn và tập huấn. Trong đó, có 4 yếu tố tác động chính đến thu nhập nông hộ ở An Biên, đó là: số năm kinh nghiệm, diện tích, vay vốn và tập huấn. Số liệu xử lý cụ thể của 4 yếu tố chính như sau: số năm kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp trung bình là 10 năm; diện tích đất sản xuất trung bình là 20.717,11 m2; tỷ lệ vay vốn là 71,38%; tỷ lệ tham gia tập huấn là 45,72%. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập như: nông hộ nên tiếp cận thêm các phương tiện thông tin đại chúng về sản xuất nông nghiệp để nâng cao nhận thức, tích lũy kinh nghiệm, đồng thời, địa phương cần theo chặt, gắn bó với nông hộ để đưa ra các chính sách phù hợp, xác đáng với nông hộ; tăng cường thêm nguồn lực như: diện tích, vốn để gia tăng năng suất và chất lượng, từ đó, cải thiện thu nhập.

Từ khóa: Phân tích, yếu tố ảnh hưởng, tôm – lúa, thu nhập, nông hộ, huyện An Biên.


ẢNH HƯỞNG CỦA BÓN BỔ SUNG SILIC ĐẾN SINH TRƯỞNG, GIẢI PHẪU CỦA CÂY MẠCH MÔN (Ophiopogon Japonicus Wall.) TRONG ĐIỀU KIỆN KHÔNG TƯỚI TẠI HẠ HÒA, PHÚ THỌ

Nguyễn Thị Thanh Hải1, Nguyễn Đình Vinh2, Nguyễn Văn Phú3

1 Nghiên cứu sinh Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2 Hội Khoa học công nghệ Chè Việt Nam
3Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu này nhằm đánh giá đặc điểm sinh trưởng, năng suất và giải phẫu của cây mạch môn khi được bón bổ sung silic trong điều kiện không tưới nước tại Hạ Hòa, Phú Thọ. Thí nghiệm 2 nhân tố được bố trí theo kiểu split-plot trên đất xám bạc màu với 6 mức bón silic  (0, 20, 30, 40, 50, 60 kgSiO­2/ha/năm) và 2 mẫu giống mạch môn (G2 và G6). Kết quả nghiên cứu cho thấy trong điều kiện không tưới, sinh trưởng của mẫu giống G6 tốt hơn mẫu giống G2. Bón bổ sung silic lượng đều có ảnh hưởng tốt với cây mạch môn, tăng sự phát triển sâu và rộng hơn của bộ rễ, tăng khả năng đẻ nhánh, tăng diện tích bộ lá và chất khô tích lũy. Cấu tạo giải phẫu lá và rễ cây mạch môn cũng có sự thay đổi giúp cây hút nước và dẫn truyền tốt hơn. Tuy nhiên trên đất xám bạc màu mức bón S4 (30 kg N + 30 kg P2O5 + 30 kg K2O + 40 kgSiO­2/ha) được cho là phù hợp với cây mạch môn, tại mức bón này năng suất củ mạch môn đạt cao nhất (3,7 tấn/ha), tăng 27,6% so với công thức không bón silic. Do đó, việc sử dụng bón bổ sung silic được khuyến khích nhằm làm giảm tác hại của việc thiếu nước đến sinh trưởng phát triển của cây mạch môn.

Từ khóa: Mạch môn, không tưới, silic, giải phẫu, Phú Thọ.


ẢNH HƯỞNG CỦA SILIC ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ VÀ KHẢ NĂNG HẤP THU DINH DƯỠNG KHOÁNG CỦA CÂY MẠCH MÔN (Ophiopogon Japonicus Wall) TRONG ĐIỀU KIỆN KHÔNG TƯỚI

Nguyễn Thị Thanh Hải1, Nguyễn Đình Vinh2, Nguyễn Văn Phú3

1 Nghiên cứu sinh Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2 Hội Khoa học công nghệ Chè Việt Nam
3Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của các mức bón silic (Si) đến một số chỉ tiêu sinh lý và khả năng hấp thu dinh dưỡng khoáng của cây mạch môn trong điều kiện không tưới nước tại Hạ Hòa, Phú Thọ. Thí nghiệm 2 nhân tố được bố trí theo kiểu split-plot trên đất xám bạc màu với 6 mức bón silic (0, 20, 30, 40, 50, 60 kgSiO2/ha/năm) trên 2 mẫu giống mạch môn (G2 và G6). Kết quả nghiên cứu cho thấy bón bổ sung Si đã làm giảm mức độ rò rỉ ion, giảm mức độ thiếu hụt bão hòa nước trên cả 2 mẫu giống. Bón Si đã làm tăng áp suất thẩm thấu (ASTT), tăng chỉ số SPAD và hiệu suất huỳnh quang diệp lục (Fv/Fm) là cơ sở nâng cao hoạt động quang hợp của cây trong điều kiện không có tưới. Khả năng hấp thu dinh dưỡng khoáng (N, P2O5, K2O, SiO2) và tích lũy hàm lượng hoạt chất polysacharides, saponin, flavonoids trong rễ, củ mạch môn có xu hướng tăng khi tăng lượng bón Si. Mức biến động của hoạt chất polysaccharide giữa các công thức được ghi nhận thấp hơn so với saponin và flavonoids. Trên đất xám bạc màu, mức bón 40kg SiO­­2 trên nền 30N, 30P2O5, 30K2O phù hợp với cây mạch môn, giúp cây tích luỹ hoạt chất cao hơn các mức bón khác.

Từ khóa: Ophiopogon japonicus, thiếu nước, Silic, đặc điểm sinh lý, hoạt chất.


VAI TRÒ CỦA HỢP TÁC XÃ TRONG CUNG CẤP VẬT TƯ ĐẦU VÀO VÀ TIÊU THỤ LÚA CHO
NÔNG DÂN Ở TỈNH HẬU GIANG

Ngô Văn Thống12, Trần Quốc Nhân3*

1Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long, Trường Đại học Cần Thơ
2Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ Nông nghiệp tỉnh Hậu Giang
3Khoa Phát triển Nông thôn, Trường Đại học Cần Thơ

Tóm tắt:

Nghiên cứu thực hiện nhằm đánh giá vai trò của hợp tác xã trong việc cung cấp dịch vụ vật tư đầu vào cho sản xuất và tiêu thụ lúa của nông dân. Số liệu nghiên cứu được thu thập từ 233 hộ nông dân trồng lúa (116 hộ tham gia và 117 hộ không tham gia hợp tác xã) ở huyện Vị Thủy và huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Phương pháp phân tích được sử dụng là thống kê mô tả, phân tích bảng chéo và kiểm định sự khác biệt trung bình giữa hai tổng thể (independent samples t-test) để phân tích vai trò của hợp tác xã đối với sản xuất và tiêu thụ lúa của nông hộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hợp tác xã chưa có vai trò quan trọng trong việc cung cấp lúa giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật cho thành viên, kể cả hộ nông dân chưa là thành viên. Hợp tác xã chưa có vai trò đáng kể trong việc tiêu thụ lúa cho nông dân nhưng đóng vai trò chính trong việc liên kết với doanh nghiệp tuy nhiên tỉ lệ hợp tác xã thực hiện liên kết chưa nhiều. Kết quả so sánh cho thấy thành viên trong hợp tác xã đạt lợi nhuận cao hơn so với hộ nông dân chưa tham gia hợp tác xã.

Từ khóa: Hậu Giang, hợp tác xã, nông dân trồng lúa, tiêu thụ, vật tư đầu vào.


THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THỨC ĂN CHĂN NUÔI NỘI ĐỊA TẠI VIỆT NAM

Nguyễn Đăng Học1, Bùi Thị Khánh Hòa2

1Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phản ánh thực trạng kế toán quản trị chi phí môi trường (KTQTCPMT) trong các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi (TĂCN) nội địa tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chỉ ra, mức độ thực hiện các nội dung KTQTCPMT trong các doanh nghiệp sản xuất TĂCN nội địa tại Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu mới ở mức bước đầu ghi nhận chi phí môi trường (CPMT). Hầu hết các doanh nghiệp chưa thực hiện xây dựng định mức và lập dự toán riêng cho CPMT và chúng không được theo dõi chi tiết, tách biệt mà đang được theo dõi tổng quát trên các tài khoản chung. Đặc biệt, không có doanh nghiệp nào thực hiện lập báo cáo CPMT riêng mà chỉ có một số doanh nghiệp tích hợp thông tin CPMT trên báo cáo chi phí chung. Nghiên cứu đã đề xuất một số khuyến nghị đối với doanh nghiệp nhằm góp phần hoàn thiện KTQTCPMT trong thời gian tới.

Từ khóa: Chi phí môi trường, Kế toán quản trị chi phí môi trường, Thức ăn chăn nuôi.


Nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam –chi nhánh Bắc Ninh

Dương Thị Giang*, Nguyễn Công Tiệp, Bùi Thị Nga

Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Trong những năm gần đây, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được nhìn nhận như là một trong những “trụ cột” tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Sau 20 năm xây dựng và phát triển, các khu công nghiệp Bắc Ninh đã chứng minh được năng lực vượt trội, đó là sức hút FDI liên tục tăng, đưa Bắc Ninh từ một tỉnh nông nghiệp vươn lên đứng tốp đầu toàn quốc về thu hút đầu tư. Hiện tại, hoạt động tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp FDI tại Vietcombank Bắc Ninh đã được chú trọng phát triển, tuy nhiên so với tiềm năng khai thác đối tượng FDI trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thì hiệu quả đạt được chưa cao, thị phần còn hạn chế. Nghiên cứu được thực hiện thông qua việc thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp, trong đó có khảo sát với các doanh nghiệp FDI đang có dư nợ tại ngân hàng để có những đánh giá về chất lượng tín dụng hiện tại. Kết quả là có 4 yếu tố cơ bản: chính sách tín dụng, quy trình tín dụng, năng lực phục vụ, sự tin cậy là nhóm yếu tố được khách hàng quan tâm nhiều, cần được ngân hàng chú trọng nhiều hơn. Đây là căn cứ quan trọng để các nhà hoạch định chính sách, các lãnh đạo của ngân hàng Vietcombank có những giải pháp phát triển phù hợp với việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp FDI trong tương lai.

Từ khóa: đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); vietcombank Bắc Ninh, chất lượng tín dụng, khách hàng doanh nghiệp FDI.


ẢNH HƯỞNG CỦA FUCOIDAN BỔ SUNG VÀO THỨC ĂN LÊN TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ RÔ PHI (Oreochromis niloticus) GIAI ĐOẠN GIỐNG VÀ KHẢ NĂNG CẢI THIỆN TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ KHI GÂY NHIỄM VI KHUẨN Aeromonas veronii

Trần Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Thị Dung, Trần Thị Nắng Thu

Khoa Thủy sản, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng của hoạt chất fucoidan chiết xuất từ rong nâu Sargassum swartzii lên tăng trưởng, tỷ lệ sống, hệ số chuyển hóa thức ăn và khả năng kháng bệnh đối với vi khuẩn Aeromonas veronii ở cá rô phi giống (Oreochromis niloticus). Cá (23,2 ± 2,7g) được cho ăn thức ăn công nghiệp 35% Protein có bổ sung fucoidan ở các hàm lượng khác nhau (0%; 0,05%; 0,1%; 0,5%) trong 6 tuần, mỗi loại thức ăn được lặp lại 3 lần. Kết quả cho thấy fucoidan không ảnh hưởng (P>0,05) đến tăng trưởng, tỷ lệ sống và hệ số thức ăn của cá thí nghiệm. Sau khi kết thúc 6 tuần nuôi trên, cá được cảm nhiễm vi khuẩn A.veronii với liều LD50 được xác định là 7,82 x 104 CFU/mL, số cá chết được theo dõi trong 10 ngày sau đó. Tỷ lệ sống của cá khi bị nhiễm A.veronii đã tăng từ 30% ở nghiệm thức không bổ sung fucoidan và 36,7% ở nghiệm thức bổ sung tỷ lệ thấp (0,05%) lên đến 76,6-80 % ở nghiệm thức bổ sung fucoidan với nồng độ cao hơn (0,1% và 0,5%). Trong nghiên cứu này, chúng tôi kết luận rằng bổ sung fucoidan chiết xuất từ rong biển Sargassum swartzii vào thức ăn với tỷ lệ 0,1% và 0,5% sẽ làm tăng sức đề kháng của cá rô phi giống đối với bệnh do vi khuẩn Aeromonas veronii gây ra.

Từ khóa: Fucoidan, kháng bệnh, Aromonas veronii, cá rô phi.


ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH TẠI TÂY NGUYÊN

Nguyễn Thu Thùy*, Trần Đức Viên, Nguyễn Thanh Lâm, Nông Hữu Dương

Khoa Tài nguyên và Môi Trường, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng sản xuất lâm nghiệp của hộ tại Tây Nguyên. Kết quả nghiên cứu thu được từ phỏng vấn bán cấu trúc 175 hộ có trồng cây lâm nghiệp và phỏng vấn sâu 28 cán bộ chủ chốt cho thấy, mô hình trồng xen cây lâm nghiệp + cây công nghiệp +/cây ăn quả hiện được áp dụng phổ biến nhất. Thành phần loài cây lâm nghiệp được trồng trong hệ thống sử dụng đất của hộ tương đối đa dạng (23 loài cây chính), trong đó Bời lời đỏ (Litsea glutinosa), Muồng đen (Cassia siamea), Gòn (Ceiba pentandra), Mắc ca (Macadamia integrifolia) là nhóm loài cây lâm nghiệp chủ đạo được nhiều hộ lựa chọn trồng. Tuy nhiên, thiếu đất canh tác, thiếu vốn để duy trì hệ thống và hiệu quả kinh tế mang lại từ cây lâm nghiệp thấp hơn so với các loài cây khác được xem là những rào cản chính trong phát triển sản xuất lâm nghiệp của các hộ đồng bào vùng Tây Nguyên. Hộ có xu hướng ưu tiên lựa chọn loài cây gỗ đa tác dụng hay các loài cây lâm sản ngoài gỗ để trồng trong hệ thống sản xuất của họ.

Từ khóa: Lâm nghiệp bền vững, sản xuất lâm nghiệp, Tây Nguyên.


ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ LÂY NHIỄM VIRUS GÂY BỆNH TIÊU CHẢY CẤP Ở LỢN TẠI LÒ MỔ DỰA TRÊN PHÂN TÍCH MẠNG LƯỚI VẬN CHUYỂN

Mai Thị Ngân1, Trần Thị Hương Giang1, Lại Thị Lan Hương1, Vũ Việt Anh2

1Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Khoa Chăn nuôi thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Bệnh tiêu chảy cấp tính ở lợn (Porcine Epidemic Diarrhea- PED) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus PED (PEDV) gây ra với tỷ lệ chết cao gây thiệt hại kinh tế lớn. Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi là đánh giá nguy cơ nhiễm chéo PEDV giữa các trại lợn dựa vào phương pháp phân tích mạng lưới vận chuyển lợn tại một số lò mổ ở miền Bắc. Kết quả tóm tắt dữ liệu của 128 trại đã chỉ ra trong 4 lò mổ, SL2 là lò mổ có số lượng trại vận chuyển đến nhiều nhất (76 trại) trong đó 30,3% số trại dương tính với PEDV. Kết quả phân tích mạng lưới vận chuyển cho thấy, tổng số có 132 điểm, 148 đường liên kết và SL2 là điểm trung tâm nhất với giá trị mức độ trung tâm cao nhất là 82. Tỷ lệ trại dương tính với PEDV trong 7 cụm điểm dao động từ 16,7 đến 44% trong đó cụm SL1, SL2, SL3 có nhiều điểm hơn đồng thời có tỷ lệ dương tính với PEDV cao hơn các cụm khác. Nguy cơ một trại nhiễm PEDV khi tiếp xúc với SL1, SL2, SL3 cao hơn khi tiếp xúc với SL4 là 3,57, 2,17 và 3,24 lần.

Từ khóa: bệnh tiêu chảy cấp ở lợn, lò mổ, mạng lưới vận chuyển, nguy cơ.


TỶ LỆ NHIỄM OTODECTES CYNOTIS Ở CHÓ MANG ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN THÚ Y HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ

Nguyễn Văn Phương*, Bùi Khánh Linh, Nguyễn Thị Hoàng Yến, Nguyễn Thị Hồng Chiên, Nguyễn Thị Ngọc, Trần Văn Nên

Khoa Thú y – Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Mục đích nghiên cứu này nhằm đánh giá tình hình nhiễm bệnh ghẻ tai do Otodectes cynotis gây ra ở chó mang đến khám tại Bệnh viện thú y Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Mẫu ráy tai chó được soi trên kính hiển vi để xác định tình trạng nhiễm ghẻ tai. Chó nhiễm ghẻ tai được phân thành 2 lô và điều trị thử nghiệm bằng Dexoryl và Frontline Plus. Kết quả kiểm tra mẫu ráy tai của chó trên kính hiển vi cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh ghẻ tai do Otodectes cynotis là 31,03%. Trong số những chó được kiểm tra dương tính với ghẻ tai, chó ở lứa tuổi từ 0 – 6 tháng nhiễm với tỷ lệ cao nhất, chiếm 46,97%; Nhóm chó ngoại nhiễm với tỷ lệ 38,41%, cao hơn so với tỷ lệ nhiễm ở nhóm chó nội, 20,21%; Theo hình thức nuôi, chó thả rông nhiễm với tỷ lệ cao nhất, 57,89%. Dexoryl và Frontline Plus đều mang lại hiệu quả điều trị cao lần lượt là 96,55% và 100% đối với bệnh ghẻ tai do Otodectes cynotis gây ra ở chó.

Từ khóa: Chó, Dexoryl, Frontline plus, ghẻ tai, Otodectes cynotis.


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU VỀ BỆNH VIÊM DA NỔI CỤC TRÊN BÒ TẠI HUYỆN HỮU LŨNG – LẠNG SƠN NĂM 2020

Nguyễn Văn Tâm1, Nguyễn Thị Thu Huyền,1, 2, Trịnh Thị Bích Ngọc1, Vũ Xuân Đăng1, Phạm Ngọc Thạch1, Nguyễn Văn Điệp1, Nguyễn Thị Lan1, Lê Văn Phan1*

1 Khoa thú y, Học viên Nông Nghiệp Việt Nam
2 Khoa Chăn nuôi- Thú y, Trường Đại học Nông- Lâm Bắc Giang

Tóm tắt:

Bệnh Viêm da nổi cục (VDNC) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên trâu bò do Capripoxvirus gây ra, bệnh gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi gia súc. Theo Cục Thú y, bệnh VDNC trên trâu bò xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào cuối tháng 10/2020 tại 2 tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn. Đến nay, bệnh đã lây lan ra ít nhất 10 tỉnh thành khác nhau của miền Bắc và miền Trung, và đã gây ra những thiệt hại kinh tế nặng nề cho các hộ chăn nuôi trâu bò. Trong nghiên cứu này, một số mẫu da của bò bị bệnh VDNC tại huyện Hữu Lũng – Lạng Sơn với các biểu hiện triệu chứng lâm sàng như sốt (>40ºC), chảy nước mũi, nước dãi, xuất hiện các nốt sần, u cục trên khắp vùng da trên cơ thể đã được thu thập. Kết quả chẩn đoán bằng phương pháp PCR cũng như giải trình tự gen cho thấy chủng virus gây bệnh thuộc chi Capripoxvirus. Kết quả nghiên cứu về bệnh tích vi thể của da bò mắc bệnh VDNC cho thấy hiện tượng biểu mô dày lên ở lớp sừng của vùng biểu bì, các nang lông, tuyến bã có hiện tượng tăng sinh, xuất hiện các thể vùi trong nội bào và xuất huyết vùng trung bì.

Từ khóa: Trâu bò, viêm da nổi cục, PCR, bệnh lý vi thể.


NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG GLYCEROLORVUS ES PASTE (OEP) THÍCH HỢP TRONG MÔI TRƯỜNG ĐÔNG LẠNH NHANH TINH DỊCH THỎ

Ngô Thành Trung*, Trần Thị Chi, Vũ Hải Yến1, Tạ Thị Hồng Quyên, Vũ Thị Loan, Ngô Thị Minh Khánh, Vũ Việt Thắng

1 Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu này được tiến hành nhằm xác định hàm lượng glycerol và Orvus Es Paste (OEP) thích hợp trong môi trường đông lạnh tinh thỏ. Các mẫu tinh của sáu thỏ đực giống New Zealand được pha loãng trong môi trường Tris-Citrate-Glucose có bổ sung hàm lượng glycerol và OEP thử nghiệm là 0; 4; 6; 8% và 0; 0,5; 1,0; 1,5% và được đông lạnh nhanh trong cọng rạ 1 ml. Sau 30 ngày bảo quản trong nitơ lỏng, các mẫu tinh được giải đông ở 37oC trong 90 giây và được so sánh hoạt lực và tỷ lệ tinh trùng kỳ hình sau giải đông, thí nghiệm được lặp lại sáu lần. Ba mươi thỏ cái New Zealand được phối tinh nhân tạo hai lần cách nhau sáu giờ bằng tinh đông lạnh, mỗi con được phối 1 cọng tinh/lần và được tiêm 1 µg buserelin acetate ngay sau khi phối liều một. Kết quả cho thấy việc bổ sung 6% glycerol và 1% OEP trong môi trường đông lạnh tinh thỏ cho hiệu quả đông lạnh tinh tốt hơn với hoạt lực tinh trùng của các mẫu tinh sau giải đông tương ứng là 0,25 ± 0,03 và 0,35 ± 0,07 điểm. Tỷ lệ đậu thai của thỏ cái được phối tinh đông lạnh là 70% và số con sơ sinh trung bình/ổ là 6,1 ± 0,5 con.

Từ khóa: thụ tinh nhân tạo, tinh thỏ, đông lạnh tinh trùng.


NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC BỆNH DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI (ASF) TẠI HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Trần Thị Hà1, Trương Hà Thái2, Lại Thị Lan Hương3, Nguyễn Văn Giáp2, Chu Thị Thanh Hương2

1 Khoa chăn nuôi thú y. Trường trung cấp Nông nghiệp Thái Bình
2 Bộ môn Vi sinh vật – Truyền nhiễm, Khoa Thú y, Học viện nông nghiệp Việt nam
3 Bộ môn Giải phẫu – Tổ chức, Khoa Thú y, Học viện nông nghiệp Việt nam

Tóm tắt:

Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) lần đầu tiên xảy ra trên đàn lợn nuôi tại tỉnh Thái Bình (Việt Nam). Tại Quỳnh Phụ, Thái Bình, dịch bắt đầu từ ngày 26/2/2019 rồi lan ra toàn huyện. Tỷ lệ ốm bình quân của cả huyện là 32%. Tất cả lợn ốm đều được đem đi tiêu hủy. Tại các trại theo dõi, bệnh diễn ra mạnh nhất ở các nông hộ nhỏ, lẻ (71,43%) với tỷ lệ mắc cao nhất (91,95%). Trong khi đó, 33,33% trang trại quy mô vừa và lớn bị mắc bệnh với tỷ lệ lợn ốm là thấp nhất (41,23%). Tỷ lệ ốm của bệnh DTLCP theo đối tượng lợn tại huyện Quỳnh Phụ lần lượt là lợn đực (57,14%), lợn thịt (41,95%), lợn nái ( 40,63 %) và lợn con (39,01%). Triệu chứng, bệnh tích của lợn mắc bệnh DTLCP tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tương đối giống nhau ở các đối tượng lợn. Việc xác định virus trên một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sự lây lan, phát tán của bệnh trên đàn lợn nuôi tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được tiến hành bằng phản ứng PCR đã được xác định cho thấy virus tồn tại trên các yếu tố trung gian trong trại và có thể gây bệnh cho lợn. Từ lợn bệnh, virus được xác định và giải trình tự gen cho thấy có đoạn gen tương đồng với các chủng gây bệnh ở các vùng khác ở Việt Nam và trên thế giới. Tóm lại, DTLCP là một dịch bệnh nguy hiểm, diễn biến nhanh, cấp tính, có đặc điểm dịch tễ khá phức tạp tại Việt Nam. Việc tiếp tục tiến hành nghiên cứu về tình hình mắc bệnh ở các địa phương khác trong tỉnh, cũng như các tỉnh khác trong cả nước để so sánh kết quả giữa các địa phương khác nhau từ đó có cái nhìn tổng quan nhất là rất cần thiết.

Từ khóa: Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP), triệu chứng, bệnh tích, giải trình tự gen, Quỳnh Phụ, Thái Bình.



BÌA TẠP CHÍ KHNNVN