Bài chờ đăng - Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

Bài chờ đăng

Đăng ngày:16/01/ 2023

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP  ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN KHOA NÔNG HỌC – HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trần Thị Vân Anh1*, Nguyễn Thị Nhâm1, Ngô Thị Bích Hằng1

1Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu tiến hành khảo sát 310 sinh viên năm thứ 2, 3 và thứ 4; 47 giảng viên và cán bộ hỗ trợ; cùng 15 đơn vị tuyển dụng về các nội dung liên quan tới định hướng nghề nghiệp và việc làm cho sinh viên Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Kết quả cho thấy sinh viên chủ động lựa chọn ngành nghề theo nhận thức và năng lực bản thân. Tham gia các hội chợ việc làm, tìm kiếm thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng là phương thức tìm kiếm việc làm hàng đầu được đa số sinh viên lựa chọn. Trong khi rất ít sinh viên lựa chọn tìm kiếm việc làm thông qua thi tuyển viên chức hay dựa vào mối quan hệ gia đình. Kết quả này cho thấy sinh viên đã ý thức được vai trò, trách nhiệm của bản thân trong việc chủ động tìm kiếm việc làm trong tương lai. Công tác tư vấn và định hướng nghề nghiệp cho sinh viên được Khoa quan tâm, được sinh viên, cán bộ giảng viên và các đơn vị tuyển dụng đánh giá cao. Tuy nhiên, một số nội dung và phương pháp tổ chức hoạt động chưa đa dạng và chưa thực sự hiệu quả. Khoa cần xây dựng đội ngũ tư vấn chuyên trách đảm bảo đủ cả về số lượng, chất lượng để tổ chức tốt công tác thông tin nghề nghiệp và đẩy mạnh hoạt động tư vấn thường xuyên, liên tục, đa dạng cả về nội dung và hình thức.

Từ khóa: Định hướng nghề nghiệp, Nông học, sinh viên, việc làm.


ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ỨC CHẾ DỊCH MÃ CYCLOHEXIMIDE ĐẾN SỰ BIỂU HIỆN CỦA GEN AtZAT12 VÀ GEN AtFIT  TRÊN ARABIDOPSIS.

Lê Thị Tuyết Châm1*, Vũ Thị Thúy Hằng1

1Văn phòng Điều phối Nông thôn mới tỉnh Ninh Bình
2Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Sắt là nguyên tố vi lượng đóng vai trò quan trong vì tham gia vào các phản ứng oxi hóa khử diễn ra trong cây. Quá trình hấp thụ Fe được điều hòa chặt chẽ để nhằm đáp ứng nhu cầu của cây và được kiểm soát bởi yếu tố phiên mã FER-like iron deficiency-induced transcription factor (FIT). FIT sẽ tăng biểu hiện khi thiếu Fe nhưng sẽ giảm trong điều kiện đủ Fe. Tuy nhiên khi xử lý với Cycloheximide (CHX) thì sự biểu hiện này của FIT tăng cao trong điều kiên đầy đủ Fe. Nghiên cứu này nhằm đánh giá liệu Zinc finger of Arabidopsis thaliana 12 (ZAT12) một yếu tố ức chế của FIT có liên quan đến sự tăng cao của FIT hay không trong điều kiện đủ Fe và có xử lý CHX. Thí nghiệm đã đánh giá sự biểu hiện của FIT và ZAT12 sau khi xử lý với CHX ở 2 thời điểm kết thúc xử lý và sau khi xử lý 4 giờ. Kết quả cho thấy sự biểu hiện của AtFITAtZAT12 tăng cao trên Arabidopsis Col-0 và zat12-3 trong điều kiện đủ Fe 10 ngày và có xử lý CHX. Như vậy, khi không có protein ZAT12 do đột biến hay do CHX thì đều tăng sự biểu hiện AtFIT.  Nghiên cứu này cung cấp cách thức gỡ bỏ quá trình ức chế FIT trong điều kiện cây sinh trưởng trong môi trường đủ Fe.

Từ khóa: Biểu hiện gen, Cycloheximide (CHX), gen FIT, thiếu Fe, gen ZAT12.


SỰ GIAO TIẾP CHÉO GIỮA NICOTINE VÀ PACAP TRONG VIỆC ĐIỀU HÒA TÍNH THÈM ĂN Ở VÙNG DƯỚI ĐỒI CỦA CHUỘT NHẮT

Nguyễn Thành Trung1, Yuki Kambe2, Trần Thị Ánh1, Nguyễn Mạnh Tường1

 1Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Trường Đại học Kagoshima, Nhật Bản

Tóm tắt:

Nicotine là một trong những nguyên nhân gây giảm tính thèm ăn và người hút thuốc thường gầy hơn so với người không hút thuốc. Nhiều báo cáo đã chỉ ra các cơ chế sinh học thần kinh cơ bản của tác động chán ăn của việc hút thuốc lá thông qua các thụ thể Nicotine ở não bộ và gây ra các hiệu ứng tâm thần kinh, quyết định việc duy trì tình trạng nghiện thuốc lá. Tuy nhiên, Nicotine có thể hoạt động thông qua một con đường bổ sung do polypeptide kích hoạt cyclase adenylate tuyến yên (PACAP) điều chỉnh trong não bộ hay không vẫn chưa được xác định. Để làm rõ vấn đề đó, trong nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng kết hợp các nghiên cứu dược lý như biểu hiện quá mức có chọn lọc của PACAP, knock-down gen PACAP ở vùng giữa bụng dưới đồi (VMH), và đánh giá thức ăn thu nhận ở chuột nhắt. Kết quả cho thấy rằng liều lượng Nicotine phụ thuộc nồng độ làm giảm lượng thức ăn thu nhận ở những con chuột được điều trị hàng ngày trong 5 ngày liên tiếp. Ngoài ra, với tác dụng ức chế cho ăn ở chuột nhắt trắng bị knock-out gen PACAP được quan sát rõ rệt hơn. Hơn nữa, sự biểu hiện quá mức của PACAP trong vùng giữa VMH làm tăng sự biểu hiện của α4 của Nicotine. Cùng với đó, sự knock-down gen PACAP trong VMH làm giảm sự biểu hiện của α4. Tóm lại, sự biểu hiện của Nicotine thụ thể α4 ở vùng dưới đồi có thể được điều chỉnh bởi gen PACAP trong VMH.

Từ khóa: Nicotine, thức ăn thu nhận, trọng lượng, PACAP, chuột nhắt.


ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM HOA, QUẢ, HẠT VÀ CHẤT LƯỢNG HẠT PHẤN CỦA CÁC MẪU GIỐNG NGẢI TIÊN (Hedychium spp.) TRỒNG TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI

Đinh Thái Hoàng1, Nguyễn Văn Lộc1, Nguyễn Việt Long1, Vũ Ngọc Thắng1

 1 Tập đoàn T&T, 2A Phạm Sư Mạnh, Hoàn Kiếm, Hà Nội
2Khoa Nông học -Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Chi Ngải tiên (Hedychium) thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) được biết đến với công dụng làm thuốc và làm cảnh từ lâu trên thế giới. Nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào đặc điểm hoa, quả, hạt, hạt phấn và đặc điểm chín của nhị và nhụy nhằm phục vụ mục đích lai tạo giống. Đối tượng nghiên cứu là 5 mẫu giống Ngải tiên đã thu thập tại một số địa phương của Việt Nam và được trồng tại Gia Lâm – Hà Nội. Thí nghiệm được bố trí theo khối tuần tự không nhắc lại. Kết quả cho thấy: Hoa ngải tiên có cấu tạo mang đặc trưng của họ Gừng. Các mẫu giống Ngải tiên đều nở hoa vào buổi sáng từ 8h30 – 10h30, riêng NT1, NT3 nở thêm vào buổi chiều lúc 14 – 15h30. Nhụy chín sau khi hoa nở 30-60 phút, nhị chín sau nhụy 2,5 – 3h. Hạt phấn hình tròn, không dính bết, đường kính 72,3 – 86,8 µm, độ hữu dục 76,5 – 83,3%. Quả Ngải tiên là dạng quả nang, 3 ngăn, quả non màu xanh, quả chín màu vàng, vàng nhạt hoặc cam. Hạt hình hơi tròn, có góc cạnh, được bao phủ bởi lớp thịt quả màu đỏ tươi. Khối lượng quả 1,72 – 3,92 g/quả, với 8,4 – 17,6 hạt/quả, 2,8 – 5,9 hạt/ngăn, khối lượng hạt 45,17 – 92,34 mg/hạt, đường kính hạt 0,32 – 0,39 cm.

Từ khóa: Cấu tạo hoa, Cây cảnh quan, Chất lượng hạt phấn, Hedychium, Ngải tiên.


ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÂY HƯỚNG DƯƠNG

Đinh Thái Hoàng1, Nguyễn Văn Lộc1, Nguyễn Việt Long1, Vũ Ngọc Thắng1

1Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng tới sinh trưởng và năng suất của một số giống hướng dương nhập nội trong vụ xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với ba lần nhắc lại trên hai giống hướng dương Roshia và Yuyoo 3. Các công thức mật độ thí nghiệm bao gồm 83.333, 55.556 và 41.667 cây/ha. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi tăng mật độ trồng, chiều cao thân chính, chỉ số diện tích lá, năng suất lý thuyết và năng suất thực thu tăng, trong khi chu vi đĩa hạt, diện tích lá, khối lượng chất xanh, khối lượng chất khô tích lũy và năng suất cá thể có xu hướng giảm. Ở mật độ trồng 83.333 cây/ha năng suất của hai giống hướng dương đạt cao nhất 3,94 tấn/ha với giống Roshia và 3,28 tấn/ha với giống Yuyoo 3.

Từ khóa: ăn hạt, ép dầu, hướng dương, mật độ, năng suất.


ẢNH HƯỞNG CỦA DỊCH BỆNH COVID-19 ĐẾN NGÀNH DU LỊCH NINH BÌNH

Nguyễn Quảng Nam1*, Nguyễn Văn Song2

1Văn phòng Điều phối Nông thôn mới tỉnh Ninh Bình
2Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Ninh Bình. Du lịch cũng là ngành kinh doanh, dịch vụ nhạy cảm trước sự ảnh hưởng của dịch bệnh. Trong những năm gần đây, khi đại dịch Covid bùng phát, ngành du lịch Ninh Bình đã chịu ảnh hưởng nặng nề. Mục tiêu của bài báo là phân tích ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đến ngành du lịch tỉnh Ninh Bình. Kết quả khảo sát, phân tích 50 cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, 200 lao động ngành du lịch và 20 cán bộ quản lý du lịch trên địa bàn 2 huyện Hoa Lư, Gia Viễn của tỉnh Ninh Bình cho thấy: Covid-19 làm giảm 70-80% lượng du khách, qua đó ảnh hưởng tiêu cực đến doanh thu của ngành du lịch và các doanh nghiệp du lịch, nhiều lao động ngành du lịch mất việc làm, phải chuyển đổi sang công việc khác. Tuy vậy, số cơ sở lưu trú không giảm đi mà có xu hướng tăng nhẹ. Từ kết quả nghiên cứu, một số giải pháp đã được đề xuất từ kết quả nghiên cứu nhằm khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19.

Từ khóa: Ảnh hưởng, Covid-19, kinh doanh, dịch vụ, du lịch Ninh Bình.


ẢNH HƯỞNG CỦA LÀM CỎ VÀ MẬT ĐỘ CẤY ĐẾN CỎ DẠI VÀ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA HƯƠNG THUẦN 8 CANH TÁC THEO HƯỚNG HỮU CƠ

Trần Thị Thiêm 1*, Nguyễn Thị Loan1, Thiều Thị Phong Thu1

1Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của số lần làm cỏ và mật độ cấy đến kiểm soát cỏ dại và năng suất lúa Hương Thuần 8 canh tác theo hướng hữu cơ. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu split–plot với 3 lần nhắc lại. Nhân tố ô chính là số lần làm cỏ: Không làm cỏ (L0), làm cỏ một lần sau cấy 20 ngày (L1), làm cỏ hai lần sau cấy 20 ngày và 40 ngày (L2) và làm cỏ thường xuyên (mỗi lần làm cỏ cách nhau 20 ngày cho đến khi lúa trỗ, L3). Nhân tố ô phụ là mật độ cấy: 30 khóm/m2 (M1), 40 khóm/m2 (M2) và 50 khóm/m2 (M3). Kết quả cho thấy tăng số lần làm cỏ kết hợp với tăng mật độ cấy đã làm giảm số lượng và khối lượng chất khô của cỏ, dẫn đến tăng hiệu quả trừ cỏ. Các chỉ tiêu về sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, các yếu tố cấu thành và năng suất lúa cũng tăng đáng kể khi tăng đồng thời số lần làm cỏ từ L0 lên L2 và tăng mật độ cấy từ M1 lên M2. Tuy nhiên, khi tăng số lần làm cỏ từ L2 lên L3 cũng như tăng mật độ cấy từ M2 lên M3 không có sự sai khác về chỉ tiêu năng suất. Năng suất hạt cao nhất đạt được ở công thức L2M2, L2M3, L3M2 và L3M3 (4,34-4,47 tấn/ha).

Từ khóa: số lần làm cỏ, hiệu quả trừ cỏ, năng suất hạt.


ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN QUÁ TRÌNH TRÍCH LY DẦU TỪ THỊT QUẢ TRÁM ĐEN (Canarium tramdenum Dai and Yakovl.)  HƯƠNG SƠN (HÀ TĨNH)

Lại Thị Ngọc Hà1*, Đỗ Thị Hồng Hải1, Nguyễn Thị Thơm2, Nguyễn Thị Thanh Thư3

1Khoa Công nghệ thực phẩm, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Sinh viên lớp K65CNTPC, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
3Sinh viên lớp K65CNTPC, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Trong nghiên cứu này, ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ đến hiệu suất trích ly dầu từ thịt quả trám đen (Canarium tramdenum Dai and Yakovl.) thu hái tại Hà Tĩnh đã được xác định. Dầu trong thịt quả trám đen được trích ly bằng phương pháp trích ly động với dung môi hữu cơ. Kết quả cho thấy, lượng dầu cao nhất thu được khi tiến hành trích ly bằng dung môi ethyl acetate, tỷ lệ nguyên liệu/dung môi 1/10 (w/v), nhiệt độ trích ly 40oC, trích ly 2 lần (30 phút lần thứ nhất và 15 phút lần thứ 2), hiệu suất trích ly tương ứng đạt 99,56 ± 1,70%. Dầu thô thu được có trị số acid và trị số peroxide lần lượt là 3,10 ± 0,34 mg KOH/g và 0,45 ± 0,09 meq O2/kg, đạt tiêu chuẩn TCVN 7597:2018 quy định cho dầu thực vật. Các acid béo chủ đạo trong dầu bao gồm oleic acid, palmitic acid và linoleic acid. Đáng lưu ý là dầu thịt quả trám đen có hàm lượng polyphenol và khả năng kháng oxi hóa cao, đạt tương ứng 160,91 ± 4,14 mg đương lượng gallic acid/kg và 2,91 ± 0,06 mmol đương lượng Trolox/kg, mở ra nhiều ứng dụng cho loại dầu này trong công nghiệp thực phẩm với vai trò là chất bảo quản tự nhiên chống lại quá trình oxi hóa lipid.

Từ khóa: Ethyl acetate, polyphenol, kháng oxi hóa, acid béo thành phần.


ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ MÁY BAY KHÔNG NGƯỜI LÁI (UAV) TRONG THÀNH LẬP BẢN ĐỒ PHỤC VỤ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG

Phan Văn Khuê1, Trần Trọng Phương1, Nguyễn Đức Lộc1, Trần Thị Tính2

1Khoa Tài nguyên và Môi trường – Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Học viên cao học – Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Bản đồ là tài liệu quan trọng không thể thiếu, là cơ sở để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thực hiện thu hồi đất. Mục tiêu của nghiên cứu này là sử dụng công nghệ máy bay không người lái (UAV) thành lập bản đồ phục vụ công tác giải phóng mặt bằng (Bản đồ giải phóng mặt bằng). Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực địa bằng UAV DJI Phantom 4 Pro và máy ảnh kỹ thuật số CMOS 20MP đồng bộ cùng máy bay. Ảnh sau khi chụp được xử lý ghép và nắn trên phần mềm Agisoft metashape. Từ ảnh trực giao (Orthomosaic), tiến hành số hóa/giải đoán trực tiếp trên ảnh, biên tập bản đồ bằng MicroStation; sử dụng Gcadas để thống kê diện tích. Kết quả nghiên cứu đã thành lập được bản đồ tỷ lệ 1/500 đảm bảo đầy đủ về chất lượng, mức độ chi tiết phân loại sử dụng đất, giám sát tài sản trên đất phục vụ công tác giải phóng mặt bằng tại khu vực nghiên cứu. Qua nghiên cứu cho thấy thành lập bản đồ giải phóng mặt bằng từ ảnh chụp bằng máy bay không người lái (UAV) là công nghệ hiệu quả về mặt sản phẩm, thời gian, giá thành và xu hướng phát triển công nghệ…

Từ khóa: Công nghệ UAV; Bản đồ giải phóng mặt bằng.


ĐẶC ĐIỂM NGUỒN LỢI TÔM Ở VÙNG BIỂN VEN BỜ HẢI PHÒNG-QUẢNG NINH

Võ Trọng Thắng*, Nguyễn Văn Giang

Phòng Nghiên cứu Nguồn lợi Hải sản, Viện Nghiên cứu Hải sản

Tóm tắt:

Trong giai đoạn 2013-2019, đã có 88 mẻ lưới được thu thập trong 4 chuyến khảo sát đại diện mùa gió Đông Bắc và Tây Nam bằng tàu đánh lưới kéo đơn tôm. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 53 loài tôm thuộc 23 giống và 10 họ, họ tôm he có số loài phong phú nhất với 29 loài. Đã cập nhật, bổ sung 25 loài tôm trong đó có 12 loài tôm he, 8 loài tôm tít và xác định được 25 loài tôm kinh tế cho vùng biển nghiên cứu. Sản lượng nguồn lợi tôm chiếm 18,31% tổng sản lượng khai thác, trong đó vùng biển ven bờ chiếm 30,34% cao hơn vùng lộng (12,92%). Năng suất khai thác tôm trong mùa gió Tây Nam cao hơn mùa gió Đông Bắc, trung bình đạt 7,31 kg/giờ. Mật độ phân bố trung bình vùng biển đạt 303,56 kg/km2, trữ lượng nguồn lợi tôm vùng biển ước tính khoảng 2.494 tấn ở mùa gió Đông Bắc và 5.116 tấn ở mùa gió Tây Nam. Kết quả nghiên cứu cung cấp một số thông tin góp phần cho công tác quản lý, khai thác và bảo vệ nguồn lợi tôm một cách bền vững.

Từ khóa: hiện trạng, nguồn lợi tôm, sản lượng tôm, trữ lượng tôm, Hải Phòng-Quảng Ninh.


ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA SINH VIÊN KHOA KẾ TOÁN VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH –
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VỀ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
BẰNG HÌNH THỨC TRỰC TUYẾN

Trần Thị Thanh Huyền*, Nguyễn Ngọc Mai, Đào Hồng Vân, Lê Thị Kim Oanh

Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Mục đích của nghiên cứu là đánh giá sự hài lòng của sinh viên khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, học viện Nông Nghiệp Việt Nam về chất lượng giáo dục đại học bằng hình thức trực tuyến, từ đó đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục trực tuyến, tăng sự hài lòng cho sinh viên. Nghiên cứu điều tra 341 sinh viên của khoa. Nghiên cứu sử dụng hệ số  Bằng phân tích hệ số Cronback Alpha, phân tích nhân tố khám phá và phân tích hồi quy, kết quả nghiên cứu cho thấy toàn bộ sinh viên  đánh giá hài lòng trở lên về chất lượng giáo dục đại học bằng hình thức trực tuyến. Năm nhóm yếu tố gồm năng lực phục vụ, phương tiện hữu hình, sự đáp ứng, sự tin cậy và đồng cảm đều tác động cùng chiều tới sự hài lòng của sinh viên. Trong đó, năng lực phục vụ có ảnh hưởng lớn nhất.

Từ khóa: hài lòng, sinh viên, trực tuyến.


VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM

Lê Thị Thu Hương1, Phạm Bảo Dương2*, Lưu Văn Duy2

1Khoa Kế toán và QTKD, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Khoa Kinh tế và PTNT, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã trải qua 02 giai đoạn (2010-2015 và 2016-2020), với những thành tựu đáng kể, giúp thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Chương trình đã huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị, trong đó phải kể đến đóng góp quan trọng của các tổ chức chính trị- xã hội (CT-XH). Bước sang giai đoạn 2021-2025, chương trình đưa ra những mục tiêu cao hơn, tập trung vào chất lượng và chiều sâu thì vai trò của các tổ chức chính trị- xã hội ngày càng trở nên quan trọng. Bài viết tổng quan làm rõ vai trò của các tổ chức CT-XH gắn với mục tiêu xây dựng nông thôn mới trong 03 giai đoạn, theo 04 nhóm vai trò chính bao gồm: (1) Thiết kế chương trình, (2) Tuyên truyền-vận động, (3) Huy động nguồn lực và (4) Giám sát – phản biện. Từ các phân tích trên, bài viết chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của các tổ chức chính trị- xã hội trong xây dựng nông thôn mới và bài học kinh nghiệm cho giai đoạn tiếp theo.

Từ khóa: Nông thôn mới, tổ chức chính trị – xã hội, vai trò, Việt Nam.


ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ GIỐNG HƯỚNG DƯƠNG NHẬP NỘI

Đinh Thái Hoàng1, Nguyễn Văn Lộc1, Nguyễn Việt Long1, Vũ Ngọc Thắng1

1Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá sinh trưởng, năng suất và chất lượng hạt của một số giống hướng dương nhập nội trong vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội. Thí nghiệm gồm 06 giống hướng dương nhập nội khác nhau bao gồm: Yuyoo (G1), Harutin 20 (G2), Roshia (G3), Kizzu Sumairu (G4), Yuyoo 3 (G5) và giống hướng dương lai F1 (G6). Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 03 lần nhắc lại. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian sinh trưởng của các giống biến động từ 89 đến 111 ngày, chia thành hai nhóm: chín sớm (G1, G2 và G3) và chín trung bình (G4, G5 và G6). Các giống hướng dương khác nhau có các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và hàm lượng dinh dưỡng trong hạt khác nhau. Trong các giống hướng dương, giống G3 có năng suất thực thu cao nhất (3,42 tấn/ha), hàm lượng dầu đạt 19,0% thích hợp cho sản xuất hướng dương ăn hạt. Giống G5 có năng suất thực thu đạt 2,57 tấn/ha, hàm lượng dầu đạt cao nhất (40,6%) thích hợp cho sản xuất hướng dương ép dầu.

Từ khóa: Chất lượng, hướng dương, lấy dầu, nhập nội.


ẢNH HƯỞNG NHIỆT ĐỘ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SÂU KEO MÙA THU
Spodoptera frugiperda
(J. E. Smith) (LEPIDOPTERA: NOCTUIDAE)

Trần Thị Thu Phương1*, Giang Kim Long1, Nguyễn Thanh Hải2, Hồ Thị Thu Giang1

1 Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2 Cục Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Tóm tắt:

Sâu keo mùa thu, Spodoptera frugiperda (J. E. Smith) (Lepidoptera: Noctuidae) là loài côn trùng đa thực nguy hiểm có nguồn gốc tại châu Mỹ, đã trở thành dịch hại xâm lấn gây hại nghiêm trọng trên cây ngô tại Việt Nam. Nghiên cứu xác định ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ đến thời gian phát dục và sức sinh sản của sâu keo mùa thu tại Việt Nam. Sâu keo mùa thu được nuôi sinh học theo cá thể trong tủ định ôn ở các mức nhiệt độ 20; 25; 27,5; 30 và 33oC, ẩm độ 75-85%, thời gian chiếu sáng: tối (12h:12h) với thức ăn lá ngô nếp giống HN88 giai đoạn 3-5 lá. Vòng đời của sâu keo mùa thu ở năm mức nhiệt độ trên lần lượt là 50,56; 36,92; 31,91; 24,28 và 22,28 ngày. Tổng số trứng của một trưởng thành cái sâu keo mùa thu đẻ ra ở mức nhiệt độ 20; 25; 27,5; 30 và 33oC lần lượt là 1119; 1020; 1152; 1168; 778 quả. Nhiệt độ khởi điểm phát dục của pha trứng 11,14oC, pha sâu non 12,47oC và pha nhộng 13,59oC. Tổng tích ôn hữu hiệu (K) của pha trứng, pha sâu non và pha nhộng lần lượt là 42,7; 200,71 và 129,65 độ ngày. Tổng tích ôn hữu hiệu cho sâu keo mùa thu phát triển từ trứng đến trưởng thành là 383,67 độ ngày.

Từ khóa: Degree-days, development, maize, Spodoptera frugiperda, Vietnam.


YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HỢP TÁC TRONG CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH VẢI THIỀU TẠI HUYỆN THANH HÀ, HẢI DƯƠNG

Nguyễn Thị Thu Trang, Bùi Thị Mai Linh, Nguyễn Thị Kim Oanh, Đoàn Thị Ngọc Thúy

Khoa Kế toán và Quản trị Kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Mục đích nghiên cứu nhằm phân tích yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng lạnh vải thiều trên địa bàn huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Nghiên cứu có sự kết hợp giữa định lượng và định tính để có cái nhìn thấu đáo và chi tiết hơn. Nghiên cứu định lượng được dựa trên sự phân tích 230 mẫu được thu thập bằng phương thức điều tra phỏng vấn trực tiếp các thành viên tham gia, dữ liệu sau khi thu thập, xử lý được tiến hành phân tích hồi quy nhằm đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến sự hợp tác chuỗi cung ứng lạnh vải thiều. Nghiên cứu định tính được thực hiện phỏng vấn sâu 15 mẫu là lãnh đạo của các thành viên và dữ liệu được xử lý thông qua phần mềm ATLAS. ti 9. Kết quả phân tích cho thấy 6 yếu tố  (sự tín nhiệm, chính sách giá cả, chia sẻ thông tin, mức độ thuần thục hợp tác, văn hoá hợp tác, năng lực lãnh đạo) đều có tác động tích cực trong đó sự tín nhiệm (0.309)  , chính sách giá cả (0.231), chia sẻ thông tin (0,188) có ảnh hưởng lớn đến văn hoá, từ đó nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm tăng cường sự  hợp tác và nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng lạnh vải thiều Thanh Hà

Từ khóa: Hợp tác, chuỗi cung ứng lạnh, vải thiều.


SỬ DỤNG VI KHUẨN PROBIOTIC Lactobacillus TRONG  LÊN MEN SỮA ĐẬU NÀNH

Nguyễn Thị Lâm Đoàn1*, Đào Thị Mỹ Hạnh1, Nguyễn Tiến Thành2, Nguyễn Hoàng Anh1

1Khoa công nghệ thực phẩm, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm, Đại học Bách Khoa Hà Nội

Tóm tắt:

Với mục đích tạo ra sự đa dạng về sản phẩm thực phẩm từ đậu nành, nghiên cứu đã tiến hành bổ sung các chủng vi khuẩn  Lactobacillus trong việc tạo sản phẩm sữa đậu nành lên men probiotic. Khả năng lên men sữa đậu nành của 3 chủng probiotic Lactobacillus: Lactobacillus plantarum D4.3, Lactobacillus pentosus D4.10, Lactobacillus fermentum D5.5  được phân lập từ thực phẩm lên men truyền thống đã được khảo sát. Bằng phương pháp nuôi cấy xác định mật độ tế bào probiotic trong sản phẩm sữa đậu nành sau lên men, nghiên cứu chỉ ra chủng Lactobacillus plantarum D4.3 0,02% (v/v) với nồng độ tế bào 1010 CFU/mL sau 6h lên men cho mật độ tế bào cao nhất 105CFU/mL có khả năng thích nghi với môi trường sữa đậu nành. Chủng này được bổ sung vào sữa đậu nành, tiến hành lên men và xác định pH, độ acid, mật độ tế bào, và đánh giá cảm quan cho thấy Lactobacillus plantarum D4.3 tỷ lệ tiếp giống 0,5% (v/v) với nồng độ tế bào 1010 CFU/mL và thời gian lên men 12h cho sản phẩm sữa đậu nành sau 15 ngày bảo quản ở nhiệt độ 4 – 6oC đảm bảo về chất lượng cảm quan, lượng vi khuẩn probiotic là 108CFU/mL.

Từ khóa: Lactobacillus, Lactobacillus plantarum, probiotic,  sữa đậu nành lên men.


PHÂN LẬP VÀ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CHỦNG NẤM
Sclerotium rolfsii GÂY BỆNH THỐI GỐC LẠC

Nguyễn Xuân Trường1, Trần Thị Đào2, Tạ Hà Trang2, Nguyễn Thanh Huyền2,
Ngô Thị Vân Anh2, Nguyễn Xuân Cảnh2*

1Viện Sinh học nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Khoa Công nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

       Sản xuất lạc đang gặp nhiều khó khăn do tỉ lệ cây bị bệnh thối gốc, gây ra bởi nấm Sclerotium rolfsii ngày càng tăng nhưng vẫn chưa có giải pháp hiệu quả để xử lý. Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định đặc điểm sinh học của nấm S. rolfsii từ đó định hướng biện pháp phòng và điều trị bệnh thối gốc trên cây lạc hiệu quả hơn. Từ 10 mẫu bệnh thu thập tại tỉnh Nam Định và Thái Bình, bằng phương pháp nuôi cấy trên môi trường PDA kết hợp tái lây nhiễm trên cây lạc, 6 chủng nấm bệnh đã được phân lập, trong đó chủng LT1 và LN1 thể hiện khả năng gây bệnh mạnh nhất. Hai chủng này đã định danh phân tử là chủng S. rolfsii isolate LT1 và chủng S. rolfsii strain LN1. Chúng thuộc cùng nhóm tương thích hệ sợi. Cả hai chủng đều có khả năng sinh trưởng tốt trên môi trường PDA khi nuôi ở 30oC, pH từ 5,0 đến 6,0 với đường kính tản nấm đạt tối đa (>90mm) sau 3 ngày nuôi; hệ sợi nấm màu trắng, đâm tia mạnh. Hạch nấm được hình thành sau 4-5 ngày nuôi và hóa nâu sau 6 -7 ngày nuôi với 921 hạch (LT1) và 420 hạch (LN1). Trong quá trình sinh trưởng, cả hai chủng đều sinh acid làm giảm mạnh pH môi trường nuôi cấy và sinh ra enzyme ngoại bào.

Từ khóa: Bệnh thối gốc, cây lạc, Sclerotium rolfsii.


TỐI ƯU HÓA ĐIỀU KIỆN NUÔI CẤY TẠO SINH KHỐI CỦA CHỦNG VI KHUẨN
EXIGUOBACTERIUM PROFUNDUM CH2.1 CÓ KHẢ NĂNG PHÂN GIẢI HISTAMINE

Nguyễn Thị Hồng, Phạm Thị Dịu, Nguyễn Thị Phương Anh, Trần Thị Thu Hằng,
Nguyễn Thị Lâm Đoàn, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Nguyễn Hoàng Anh*

Khoa Công nghệ thực phẩm, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Exiguobacterium profundum CH2.1 phân giải histamine được tối ưu hóa điều kiện nuôi cấy để thu sinh khối lớn nhất. Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy như nồng độ muối, nhiệt độ và pH đến sinh trưởng của E. profundum CH2.1 được xác định bằng phương pháp đếm khuẩn lạc. Bài toán đơn yếu tố đã chỉ ra rằng chủng này phát triển thích hợp ở nồng độ muối từ 5 đến 10%; nhiệt độ 37oC, và pH từ 6 đến 8. Áp dụng phần mềm tối ưu hóa JMP theo mô hình thiết kế thí nghiệm Box-Behnken, điều kiện thu sinh khối tối ưu của chủng E. profundum CH2.1 ở nhiệt độ 36,7oC, pH=7 và NaCl 5%, khi đó mật độ tế bào cao nhất đạt log (CFU/ml) là 7,95. Sau khi khảo nghiệm điều kiện tối ưu, tại thời điểm 3 ngày chủng E. profundum CH2.1 có mật độ cao nhất đạt log (CFU/ml) là 8,01.

Từ khóa: Môi trường nuôi cấy, Exiguobacterium profundum, pH, nồng độ muối, nhiệt độ.


MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÂN LỚP ĐA NHÃN VÀ ỨNG DỤNG PHÂN LOẠI
TIN NHẮN SMS TIẾNG VIỆT

Hoàng Thị Hà1*, Đào Xuân Dương2, Lê Thị Nhung1

1Khoa Công nghệ thông tin, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Công ty Cổ phần Tin học Viễn thông Bưu điện

Tóm tắt:

Ngày nay, hầu hết những người dùng các thiết bị di động thường xuyên bị làm phiền bởi một lượng lớn tin nhắn lừa đảo, tin nhắn quảng cáo ở các lĩnh vực khác nhau như: giải trí, mua sắm, tài chính, bất động sản… Trong đó, mỗi tin nhắn SMS có thể thuộc về một hoặc nhiều loại tin nhắn khác nhau cùng lúc. Chính vì vậy, việc sử dụng các phương pháp phân lớp đơn nhãn để phân loại tin nhắn sẽ là không phù hợp. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã xem xét các kỹ thuật phân lớp đa nhãn, thu thập tập dữ liệu tin nhắn SMS Tiếng Việt (SMSVN) với 2000 tin nhắn, cải thiện độ chính xác của các phương pháp phân lớp đa nhãn trên tập dữ liệu SMS Tiếng Việt bằng cách sử dụng kỹ thuật tiền xử lý để chuẩn hóa và làm sạch dữ liệu. Ngoài ra, chúng tôi cũng đã áp dụng các thuật toán phân lớp đa nhãn để thử nghiệm trên tập dữ liệu này. Kết quả cho thấy, sau khi áp dụng các phương pháp tiền xử lý dữ liệu, hầu hết các kỹ thuật phân lớp đa nhãn cho độ chính xác cao hơn và tỷ lệ nhãn bị phân lớp sai thấp hơn; và kỹ thuật Classifier Chains với mô hình Naïve Bayes (GNB) là phù hợp cho bài toán phân lớp dữ liệu SMS Tiếng Việt.

Từ khóa: Phân lớp đa nhãn, phân loại tin nhắn sms, tin nhắn rác, các phương pháp thích nghi thuật toán, các phương pháp chuyển đổi bài toán.


TUYỂN CHỌN CHỦNG VI KHUẨN CÓ KHẢ NĂNG CỐ ĐỊNH NITƠ VÀ TỔNG HỢP
INDOLE-3-ACETIC ACID (IAA) TỪ ĐẤT TRỒNG CÀ CHUA Ở MỘT SỐ XÃ, PHƯỜNG
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

Trần Văn Chí1*, Nguyễn Mạnh Tuấn2, Ngô Xuân Bình1, Nguyễn Duy Dũng1, Lã Văn Hiền1, Nguyễn Đức Tuân1, Nguyễn Xuân Vũ1, Phạm Thị Tuyết Mai1

1 Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên
2 Viện Khoa học sự sống, Đại học Thái Nguyên

Tóm tắt:

Mục tiêu của nghiên cứu này là tuyển chọn chủng vi khuẩn có khả năng cố định nitơ và tổng hợp IAA mạnh. Từ 32 mẫu đất trồng cà chua thu tại tỉnh Thái Nguyên, đã phân lập được 5 chủng vi khuẩn có cả hai hoạt tính trên. Từ đó tuyển chọn được chủng MN26 có hoạt tính cố định nitơ và sinh tổng hợp IAA mạnh nhất tương ứng với 20,822 µg/ml NH4+ khi nuôi trên môi trường Ashby và 77,2344 µg/ml IAA trên môi trường Ashby bổ sung 0,1% L-Tryptophan. Kết quả so sánh trình tự gen 16S-rRNA của chủng MN26 cho tỷ lệ tương đồng 98,88% với chủng Flavobacterium tistrianum GB 56.1T (KT223144). Sơ đồ phả hệ cho thấy chủng MN26 giữ một trí độc lập với Flavobacterium tistrianum GB 56.1T. Dựa vào dữ liệu phân tích trình tự gen 16S Rrna, chủng MN26 có thể được coi là ứng viên loài mới thuộc chi Flavobacterium, với danh pháp khoa học là Flavobacterium sp. MN26. Kết quả đánh giá đặc điểm nuôi cấy cho thấy chủng Flavobacterium sp. MN26 có khả năng sinh 8 loại enzyme (Phosphatase alcaline, Leucine arylamidase, Valine arylamidase, Trypsine, Phosphatase acide, Naphtol-AS-BI- phosphohydrolase, ß-galactosidase, D-glucosidase), có khả năng đồng hóa các nguồn carbon, bao gồm D-glucose, L-arabinose, D- mannose, D-mannitol, D-maltose, L-rhamnose, D-ribose, Inositol, D-saccharose, N-acetyl-glucosamine, Malic acid, Phenylacetic acid, Potassium gluconate, Sodium acetate và Trisodium citrate; có khả năng sinh Indole và không có khả năng chuyển hóa nitrate thành nitrite. Kết quả của nghiên cứu này là cơ sở khoa học quan trọng góp phần đa dạng hóa nguồn giống tốt phục vụ sản xuất phân bón vi sinh ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp bền vững.

Từ khóa: Cố định nitơ; tổng hợp indole-3-acetic axit; Flavobacterium.


ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẾN QUÁ TRÌNH CỐ ĐỊNH TẾ BÀO VI KHUẨN
Virgibacillus campisalis TT8.5 ĐỂ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG PHÂN GIẢI
HISTAMINE TRONG NƯỚC MẮM TRUYỀN THỐNG

Nguyễn Thị Phương Anh1, Nguyễn Thị Hồng Ly2, Phạm Thị Dịu1, Nguyễn Thị Hồng1, Giang Trung Khoa1, Trần Thị Lan Hương1, Nguyễn Thị Lâm Đoàn1, Nguyễn Thị Thanh Thủy1, Trần Thị Thu Hằng1, Nguyễn Hoàng Anh1*

1Khoa Công nghệ thực phẩm, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Mục tiêu của nghiên cứu này là cố định tế bào vi khuẩn Virgibacillus campisalis TT8.5 trên chất mang để phân giải làm giảm hàm lượng histamine trong nước mắm truyền thống. Với 3 kỹ thuật cố định tế bào là hấp phụ, bao bọc và liên kết chéo sử dụng 9 loại chất mang phù hợp với mỗi kỹ thuật, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình cố định vi khuẩn vào chất mang: tỷ lệ tế bào/chất mang (w/w), thời gian cố định (giờ), nhiệt độ cố định (oC), nồng độ muối trong dung dịch đệm (%) và tốc độ khuấy (vòng/phút) được khảo sát. Hiệu suất cố định tế bào (%) và khả năng phân giải histamine sau 2 giờ phản ứng (%) của chủng vi khuẩn Virgibacillus campisalis TT8.5 được đánh giá. Kết quả chỉ ra rằng, kỹ thuật hấp phụ với chất mang bột xương lợn cho hiệu suất cố định và khả năng phân giải histamine là cao nhất, tương ứng là 54,18% và 41,30%. Các điều kiện để cố định tế bào vi khuẩn Virgibacillus campisalis TT8.5 trên bột xương lợn được xác định là: tỷ lệ tế bào/chất mang 1/15 (w/w), tốc độ khuấy 100 vòng/phút, nồng độ muối 15%, thời gian cố định 1 giờ ở 4oC. Bioreactor dạng nén chứa tế bào vi khuẩn cố định V. campisalis TT8.5 cótiềm năng ứng dụng trong quá trình phân giải histamine của nước mắm truyền thống với hiệu suất phân giải histamine đạt 37,1%.

Từ khóa: Virgibacillus campisalis TT8.5, cố định tế bào, hiệu suất cố định tế bào, khả năng phân giải histamine, chất mang, bột xương lợn.


PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN VI KHUẨN LACTIC ỨNG DỤNG
SẢN XUẤT ĐỒ UỐNG PROBIOTIC TỪ GỪNG

Vũ Quỳnh Hương1, Vũ Thị Yến1, Nguyễn Thị Thanh Thủy1*

1Khoa Công nghệ thực phẩm, Học viện Nông nghiệp Việt Nam,

Tóm tắt:

Vi khuẩn lactic đóng vai trò quan trọng trong sản xuất thực phẩm lên men. Mục đích của nghiên cứu là phân lập và tuyển chọn chủng vi khuẩn lactic từ sản phẩm lên men để ứng dụng trong sản xuất đồ uống probiotic từ gừng. Kết quả phân lập trên môi trường MRS được 46 chủng vi khuẩn với kích thước 1-1,5 mm, khuẩn lạc tròn, bóng, màu trắng đục hoặc trắng sữa, mô nổi. Sơ tuyển được 6 chủng (GM2.10, GM2.11, GM2.17, SM1.2, SM1.3, SM1.5) dựa trên đặc điểm gram dương, catalase âm và đặc điểm hình thái tế bào hình que hoặc hình cầu. Định danh bằng phương pháp khối phổ MALDI-TOF xác định được các chủng trên thuộc 4 loài Enterococcus faecium, Enterococcus casseliflavus, Lactobacillus fermentum và Lactobacillus plantarum. Thử nghiệm hoạt tính probiotic, tuyển chọn được chủng L. plantarum SM1.3 có khả chịu được pH 1,0-3,0, chịu muối mật 0,3% tốt, có khả năng sinh enzyme amylase, protease, cellulase và kháng hai chủng vi sinh vật kiểm định E. coliSalmonella sp. Kết quả giải trình tự gen cho thấy chủng SM1.2 thuộc loài Limosilactobacillus fermentum và chủng SM1.3 thuộc loài Lactiplantibacillus plantarum. Bước đầu sử dụng chủng vi khuẩn L. plantarum SM 1.3 cho sản xuất đồ uống probiotic từ gừng thu được sản phẩm có chất lượng cảm quan xếp loại tốt, mật độ vi khuẩn L. plantarum SM1.3 đạt yêu cầu đối với sản phẩm lên men sau 5 ngày bảo quản ở điều kiện 4 ⁰C.

Từ khóa: Củ gừng, đồ uống probiotic, vi khuẩn lactic, L. plantarum SM1.3.


ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KHÁNG NẤM Collectotrichum GÂY BỆNH THÁN THƯ TRÊN QUẢ THANH LONG BỞI CÁC CHỦNG Streptomyces sp.

Nguyễn Thị Thủy Tiên1, Nguyễn Hiền Trang1, Nguyễn Thỵ Đan Huyền1,            Lê Thanh Long1

1Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế

Tóm tắt:

Thán thư là một trong những bệnh phổ biến gây hại trên thanh long sau thu hoạch, gây ra bởi nấm Collectotrichum spp. Trong nghiên cứu này, 56 chủng  Streptomyces sp. được sử dụng để đánh giá khả năng kháng nấm C. acutatum C1. Kết quả sàng lọc sơ bộ bằng phương pháp cấy vệt cho thấy có 33 chủng không có khả năng kháng nấm C. acutatum C1, 17 chủng kháng yếu và 6 chủng thể hiện khả năng kháng nấm mạnh. Đáng chú ý, chủng NARZ có thể hiện tính kháng mạnh nhất và được định danh dựa trên gene 16S rRNA là Streptomyces murinus. Dịch nổi không chứa tế bào của Strep. murinus có thể ức chế sự phát triển của nấm C. acutatum C1 trên môi trường PDA. Nồng độ 28,89% có khả năng ức chế ít nhất 50% sự phát triển của đường kính tản nấm C. acutatum C1. Như vậy, Strep. murinus NARZ có tiềm năng ứng dụng trong kiểm soát bệnh thán thư trên quả thanh long sau thu hoạch.

Từ khóa:kháng nấm, Streptomyces, thán thư, thanh long.


ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG NUÔI CẤY ĐẾN KHẢ NĂNG TỔNG HỢP IAA CỦA CHỦNG VI KHUẨN NỘI SINH HY9 VÀ TT3

Phạm Hồng Hiển1, Trần Thị Đào2, Tạ Hà Trang2, Hoàng Thị Liễu2, Nguyễn Văn Giang2*

1Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam;
2Khoa Công nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt

Vi khuẩn nội sinh là nhóm vi khuẩn sinh trưởng và phát triển bên trong mô thực vật, không gây hại cho cây chủ. Chúng góp phần cải thiện sự phát triển của cây thông qua tổng hợp IAA, siderophore, hoà tan phosphate và tăng cường tính kháng bệnh của cây. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích đánh giá ảnh hưởng của pH, nhiệt độ, nguồn cacbon, nitơ và thời gian nuôi cấy đến nồng độ IAA được tổng hợp bởi hai chủng vi khuẩn nội sinh HY9 và  TT3 được phân lập từ rễ cây kim ngân (Lonicera japonica). Trong các điều kiện nuôi cấy khác nhau, nồng độ IAA cao nhất của hai chủng vi khuẩn nội sinh HY9 và TT3 đạt được tại pH=7 (lần lượt là 42,9 µg/ml và 49,07 µg/ml), 35oC (53,49 µg/ml và 56,73 µg/ml), 4 ngày nuôi (51,47 µg/ml và 53,76 µg/ml). Nguồn cacbon thích hợp là saccharose và nguồn nitơ là NH4Cl. So sánh trình tự nucelotide 16S rRNA của chủng vi khuẩn nội sinh TT3 với các trình tự nucleotide 16S rRNA của các chủng vi khuẩn trên ngân hàng gen (GenBank) cho phép kết luận chủng TT3 có quan hệ rất gần với chủng Klebsiella variicola strain 1, do đó chủng TT3 được đặt tên là Klebsiella variicola TT3.

Từ khóa: Cây kim ngân, vi khuẩn nội sinh, IAA, Klebsiella spp.


ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐỐI KHÁNG THỰC VẬT (ALLELOPATHY) CỦA CÂY CỎ MAY (Chrysopogon aciculatus (Retz.) Trin.) TRONG CÁC ĐIỀU KIỆN SÀNG LỌC KHÁC NHAU

Phan Trung Thắng1, Nguyễn Văn Viên1, Nguyễn Thanh Nhung2, Nguyễn Hà Trang Linh2, Trần Đăng Khánh2*

1 Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2 Viện Di truyền Nông nghiệp

Tóm tắt:

Cây cỏ may (Chrysopogon aciculatus (Retz.) Trin.) là cây lưu niên thuộc họ lúa Poaceae (Gramineae). Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá tiềm năng đối kháng thực vật của cây cỏ may trong các điều kiện thí nghiệm khác nhau. Trong điều kiện phòng thí nghiệm, nồng độ 50 g/l bột cỏ may gây ức chế khá rõ rệt tới sự sinh trưởng và phát triển của cây chỉ thị (cỏ lồng vực, thóc và đỗ xanh), ức chế trung bình các công thức lần lượt là 56,86%; 52,61%; 46,24% tương ứng. Đặc biệt, bột cỏ may ức chế mạnh mẽ tới khả năng phát triển rễ của các cây chỉ thị. Trong điều kiện nhà lưới, tỷ lệ nảy mầm và chiều dài thân của cỏ lồng vực đều thấp hơn so với đối chứng ở nồng độ 200 g/m2. Trong điều kiện đồng ruộng, bột cỏ may vẫn thể tính ức chế khá mạnh tới sinh khối của cỏ lồng vực, giống như các thí nghiệm trong phòng và trong điều kiện nhà lưới. Ức chế trung bình công thức cao nhất là 37,6%. Ngoài ra, bột cỏ may không những kìm hãm sự phát triển của cỏ dại còn làm tăng năng suất của lúa so với đối chứng.

Từ khóa: Chrysopogon aciculatus (Retz.) Trin., allelopathy, cỏ lồng vực, phần trăm ức chế, cây chỉ thị.


Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn huyện Tân Lạc,
tỉnh Hòa Bình

Trương Thị Cẩm Anh1, Hồ Ngọc Ninh1*, Nguyễn Tất Thắng2, Lại Phương Thảo3, Bùi Thị Tân4

1Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Khoa Du lịch và Ngoại ngữ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
3Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
4Văn Phòng huyện Ủy Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình

Tóm tắt:

Nghiên cứu phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch ở huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Nghiên cứu đã khảo sát 20 cán bộ quản lý cấp huyện và cấp xã; 25 tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch và 60 khách du lịch đã đến tham quan tại huyện Tân Lạc. Kết quả nghiên cứu cho thấy huyện Tân Lạc đã quan tâm đến phát triển du lịch, tuy nhiên công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn huyện thì vẫn còn một số những hạn chế như: công tác quy hoạch phát triển du lịch chưa đồng bộ; công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch còn sơ sài; đội ngũ nhân lực du lịch vẫn còn hạn chế; công tác kiểm tra chưa thường xuyên. Một số giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn huyện Tân Lạc như sau: Tăng cường quản lý quy hoạch và kế hoạch phát triển du lịch; Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức về vai trò của ngành du lịch; Tăng cường đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch; Đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ và tour tuyến du lịch; Tăng cường công tác thanh kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch.

Từ khóa: Quản lý nhà nước, du lịch, huyện Tân Lạc.


GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG SẢN XUẤT RAU CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Phạm Thị Thanh Thuý, Đặng Xuân Phi, Lê Thị Thanh Loan

Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất rau sẽ giúp các hợp tác xã tăng giá trị sản xuất và lợi nhuận. Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất rau tại các hợp tác xã nông nghiệp của huyện Đông Anh. Thông tin, số liệu thứ cấp và sơ cấp được thu thập từ 8 Hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, 8 hợp tác xã nông nghiệp không ứng dụng công nghệ cao với 32 cán bộ và 160 xã viên các hợp tác xã. Kết quả cho thấy, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất rau giúp nâng cao hiệu quả và tăng giá trị sản xuất cho các hợp tác xã nông nghiệp nhưng đang gặp nhiều khó khăn như quy mô vốn đầu tư lớn, khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm…Các giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới thúc đẩy hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất rau gồm: đẩy nhanh hướng dẫn, triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ; hoàn thiện quy hoạch vùng sản xuất ứng dụng công nghệ cao; hỗ trợ tín dụng linh hoạt; nâng cao hiệu quả chương trình hỗ trợ nhân lực cho HTX; áp dụng công nghệ phù hợp.

Từ khóa:Hợp tác xã nông nghiệp, rau, công nghệ cao.


TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG KHÁNG VI SINH VẬT CỦA MÀNG SINH HỌC PECTIN-ALGINATE VÀ ỨNG DỤNG BẢO QUẢN QUẢ CHANH DÂY (Passiflora edulis Sims)

Nguyễn Trọng Thăng*, Nguyễn Thị Thu Nga, Hoàng Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thị Bích Thủy

Khoa Công nghệ thực phẩm, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Mục đích của nghiên cứu nhằm tăng cường khả năng kháng vi sinh vật (VSV) của dung dịch tạo màng Pec-Alg. Nanobubbles (NBs), tinh dầu quế (Cinna) và chlorine (Chlo) là 3 chất tiềm năng được lựa chọn để bổ sung vào dung dịch Pec-Alg. Hiệu lực ức chế VSV được đánh giá ở điều kiện in vitro, sau đó phủ màng Pec-Alg trên quả chanh dây để đánh giá hiệu quả kháng VSV, tỉ lệ lây bệnh trong thời gian bảo quản, sự biến đổi chất lượng của quả chanh dây thông qua các chỉ tiêu sinh lý, cơ lý, hóa sinh. Kết quả cho thấy các dung dịch Pec-Alg bổ sung NBs, Cinna, Chlo đều có hiệu lực ức chế VSV cao trong điều kiện in vitro, lần lượt là 86,7%; 74,1% và 93,6%. Hơn nữa, chúng có tác dụng rất tích cực trong việc ức chế VSV trên quả chanh dây (Pec-Alg-Chlo > Pec-Alg-NBs > Pec-Alg-Cinna). Dung dịch Pec-Alg-Chlo có hiệu lực ức chế VSV cao nhất đạt 84,4% tại thời điểm 1h sau phủ màng và 43,6% sau 30 ngày bảo quản. Đồng thời, chúng có hiệu quả rõ rệt trong việc hạn chế tỉ lệ lây bệnh, qua đó giúp kéo dài thời gian bảo quản chanh dây đến 33 ngày, nghĩa là tăng thêm 15 ngày so với đối chứng và tăng thêm 9 ngày so với màng Pec-Alg chưa bổ sung chất kháng VSV.

Từ khóa: Pectin, alginate, màng sinh học, nanobubbles, chlorine, chanh dây.


QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

Đỗ Đình Hiệu,1 Đỗ Thị Tám2, Mai Văn Phấn3

1NCS Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Học viện Nông nghiệp Việt Nam
3Tổng cục Quản lý đất đai

Tóm tắt:

Đất đai đóng vai trò quan trọng trong xây dựng nông thôn mới. Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất hiệu quả trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Thọ Xuân. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp: điều tra thứ cấp, điều tra sơ cấp, đánh giá theo thang đo 5 cấp của Likert, đánh giá theo chỉ tiêu sử dụng đất. Sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên chọn 100 cán bộ để điều tra. Về thực hiện quy hoạch sử dụng đất có 9/30 chỉ tiêu sử dụng đất thực hiện đạt mức rất tốt, 5/30 chỉ tiêu đạt mức tốt, 3/30 chỉ tiêu ở mức trung bình; và 13/30 chỉ tiêu ở mức kém và rất kém. Về quản lý sử dụng đất có 2/12 tiêu chí được đánh giá ở mức rất tốt; có 7/12 tiêu chí được đánh giá ở mức tốt; có 2/12 tiêu chí được đánh giá ở mức trung bình và 1/12 tiêu chí được đánh giá ở mức kém. Để nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất cần tăng cường sự thống nhất, tính liên kết của quy hoạch; giám sát chặt chẽ việc thực hiện quy hoạch; xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tổng thể; lập kế hoạch và phân loại các dự án sử dụng đất, tăng cường tuyên truyền, phổ biến; tăng khả năng tiếp cận đất đai.

Từ khóa: Quản lý đất đai, xây dựng nông thôn mới, huyện Thọ Xuân.


ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ DÒNG/ GIỐNG HOA HIÊN (Hemerocallis sp.) TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI

Phạm Thị Minh Phượng1*, Phạm Thị Bích Phương1, Nguyễn Anh Đức1, Nguyễn Xuân Trường2

1 Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Viện sinh học nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu được thực hiện nhằm lựa chọn vật liệu mới có các đặc điểm nổi trội về khả năng sinh trưởng, màu sắc, hình dạng và kích thước hoa phục vụ công tác phát triển giống hoa Hiên trang trí ở Việt Nam. Thí nghiệm được bố trí tuần tự không nhắc lại trên 16 dòng hoa Hiên lai và 3 giống hoa Hiên. Mỗi dòng/giống trồng 15 khóm, mỗi khóm 2 thân. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm chiều cao cây (cm), số lá/thân, số ngồng/thân, kích thước ngồng (cm), số nụ/ngồng, khối lượng nụ (g), kích thước hoa (cm)… Kết quả cho thấy tất cả các dòng/giống hoa Hiên đều có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt tại Hà Nội. Chiều cao cây từ 46cm (193-9) đến 116,3cm (133-13), chiều cao ngồng hoa từ 38,7cm (193-9) đến 110 cm (133-5), đường kính hoa từ 12,5cm (NB2) đến 18,5cm (133-13). Màu hoa thuộc 3 nhóm đỏ, vàng và cam với cách phối màu đa dạng trên cánh hoa. Độ bền một ngồng hoa từ 7 ngày (188-1) đến 21 ngày (133-3) và độ bền khóm hoa từ 12 ngày (NB2)  đến 31 ngày (133-3). Dựa trên các thông số về sinh trưởng và phát triển của cây hoa Hiên, 12 dòng/giống triển vọng đã được lựa chọn gồm 193-3, 183-4, 188-1, 133-3, 133-8, 133-10, 133-13, K15, K16, 133-12, NN03 và KC19.

Từ khóa: Hoa Hiên, Hemerocallis, sinh trưởng, phát triển.

 


TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG TRỒNG SEN VÀ TIỀM NĂNG
ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM SEN CỦA NÔNG HỘ

Ngô Ngọc Tồn1, Lê Ngọc Danh2, Huỳnh Thị Thu Linh3, Hà Trần Như Anh4, Trần Thanh Chúc4

1 Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
2 Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Trồng sen đã và đang góp phần nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, nhưng sự phát triển của hoạt động trồng sen chưa tương xứng với tiềm năng của nó. Các sản phẩm chủ yếu được bán dưới dạng thô nên giá trị sen thấp, kênh tiêu thụ thiếu tính ổn định và bền vững. Bài tổng quan này sẽ cung cấp các thông tin có ý nghĩa khoa học và thực tiễn về tình hình sản xuất và tiêu thụ sen, tiềm năng đa dạng hóa sản phẩm sen, cũng như những rào cản trong hoạt động sản xuất và đa dạng hóa sản phẩm sen tại Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy, nông hộ trồng sen hoàn toàn có khả năng đa dạng hóa các sản phẩm nhằm gia tăng giá trị sản phẩm, nhưng phương thức sản xuất và tiêu thụ truyền thống vẫn đang được duy trì. Nông hộ vẫn đang vật lộn với nhiều khó khăn trong sản xuất và thị trường đầu ra và hoạt động đa dạng hóa sản phẩm chưa được chú trọng. Đang còn tồn tại một khoảng cách lớn giữa sản phẩm thực tế so với tiềm năng đa dạng hóa sản phẩm sen của nông hộ. Khoảng cách này chỉ được rút ngắn nếu có sự can thiệp từ bên ngoài.

Từ khóa: Đa dạng hóa, nông hộ, rào cản, trồng sen, tiêu thụ sen.


PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT GIỮA CÁC MÔ HÌNH TRỒNG NHÃN
Ở TỈNH HƯNG YÊN

Nguyễn Đức Trung1, Nguyễn Viết Đăng2, Quyền Đình Hà3

1 Nghiên cứu sinh Khoa Kinh tế và PTNT, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2,3 Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu thực hiện nhằm phân tích hiệu quả sản xuất giữa các mô hình trồng nhãn khác nhau (Hộ gia đình, Trang trại, Hợp tác xã) và ở các vùng trồng nhãn khác nhau (vùng trồng nhãn tập trung và vùng trồng nhãn phân tán) trên địa bàn tỉnh Hưng YênĐặc điểm nảy mầm của một số loài chuối hoang dại và ảnh hưởng của điều kiện bảo quản tới khả năng nảy mầm của loài Musa balbisiana. Từ đó đề ra các giải pháp, chính sách phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trồng nhãn ở Hưng Yên. Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp kết hợp với nguồn số liệu sơ cấp thông qua việc phỏng vấn 180 cơ sở trồng nhãn (60 phiếu hộ gia đình, 60 phiếu trang trại và 60 phiếu thành viên của Hợp tác xã/Tổ hợp tác). Kết quả nghiên cứu cho ta thấy, trồng nhãn theo mô hình Hợp tác xã/Tổ hợp tác mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất: giá trị gia tăng trung bình theo mô hình Hợp tác xã/Tổ hợp tác là 199,76 triệu đồng/ha/năm, cao hơn so với mô hình trang trại (167,41 triệu đồng/ha/năm) và mô hình hộ gia đình (138,43 triệu đồng/ha/năm) và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05); Hiệu quả trồng nhãn ở vùng tập trung cao hơn so với trồng nhãn ở vùng phân tán: năng suất trung bình trồng nhãn ở vùng tập trung đạt 12,45 tấn/ha, cao hơn năng suất trung bình ở vùng vùng phân tán 12,03 tấn/ha và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05); giá trị gia tăng trung bình trồng nhãn vùng tập trung là 179,41 triệu đồng/ha/năm, cao hơn so với trồng nhãn vùng phân tán là 157,65 triệu đồng/ha/năm và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05).

Từ khóa: Mô hình trồng nhãn, giải pháp nâng cao hiệu quả trồng nhãn, nhãn Hưng Yên.


PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP NÔNG HỘ
CANH TÁC TÔM – LÚA TẠI HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

Ngô Ngọc Tồn1, Lê Ngọc Danh2, Huỳnh Thị Thu Linh3, Hà Trần Như Anh4, Trần Thanh Chúc4

1Giảng viên trường Đại học Kiên Giang
2Nghiên cứu sinh trường Đại học Cần Thơ, Giảng viên trường Đại học Kiên Giang
3Giảng viên trường cao đẳng nghề Kiên Giang
4Sinh vên Khoa Kinh Tế, trường Đại học Kiên Giang

Tóm tắt:

Bài viết sử dụng phương pháp thống kê mô tả, hồi quy đa biến xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ canh tác tôm – lúa tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Sau khi thu thập và xử lý số liệu, kết quả điều tra 304 nông hộ tìm ra 9 yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ bao gồm: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, số năm kinh nghiệm, số lượng lao động, diện tích, giống được kiểm định, vay vốn và tập huấn. Trong đó, có 4 yếu tố tác động chính đến thu nhập nông hộ ở An Biên, đó là: số năm kinh nghiệm, diện tích, vay vốn và tập huấn. Số liệu xử lý cụ thể của 4 yếu tố chính như sau: số năm kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp trung bình là 10 năm; diện tích đất sản xuất trung bình là 20.717,11 m2; tỷ lệ vay vốn là 71,38%; tỷ lệ tham gia tập huấn là 45,72%. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập như: nông hộ nên tiếp cận thêm các phương tiện thông tin đại chúng về sản xuất nông nghiệp để nâng cao nhận thức, tích lũy kinh nghiệm, đồng thời, địa phương cần theo chặt, gắn bó với nông hộ để đưa ra các chính sách phù hợp, xác đáng với nông hộ; tăng cường thêm nguồn lực như: diện tích, vốn để gia tăng năng suất và chất lượng, từ đó, cải thiện thu nhập.

Từ khóa: Phân tích, yếu tố ảnh hưởng, tôm – lúa, thu nhập, nông hộ, huyện An Biên.


ẢNH HƯỞNG CỦA SILIC ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ VÀ KHẢ NĂNG HẤP THU DINH DƯỠNG KHOÁNG CỦA CÂY MẠCH MÔN (Ophiopogon Japonicus Wall) TRONG ĐIỀU KIỆN KHÔNG TƯỚI

Nguyễn Thị Thanh Hải1, Nguyễn Đình Vinh2, Nguyễn Văn Phú3

1 Nghiên cứu sinh Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2 Hội Khoa học công nghệ Chè Việt Nam
3Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của các mức bón silic (Si) đến một số chỉ tiêu sinh lý và khả năng hấp thu dinh dưỡng khoáng của cây mạch môn trong điều kiện không tưới nước tại Hạ Hòa, Phú Thọ. Thí nghiệm 2 nhân tố được bố trí theo kiểu split-plot trên đất xám bạc màu với 6 mức bón silic (0, 20, 30, 40, 50, 60 kgSiO2/ha/năm) trên 2 mẫu giống mạch môn (G2 và G6). Kết quả nghiên cứu cho thấy bón bổ sung Si đã làm giảm mức độ rò rỉ ion, giảm mức độ thiếu hụt bão hòa nước trên cả 2 mẫu giống. Bón Si đã làm tăng áp suất thẩm thấu (ASTT), tăng chỉ số SPAD và hiệu suất huỳnh quang diệp lục (Fv/Fm) là cơ sở nâng cao hoạt động quang hợp của cây trong điều kiện không có tưới. Khả năng hấp thu dinh dưỡng khoáng (N, P2O5, K2O, SiO2) và tích lũy hàm lượng hoạt chất polysacharides, saponin, flavonoids trong rễ, củ mạch môn có xu hướng tăng khi tăng lượng bón Si. Mức biến động của hoạt chất polysaccharide giữa các công thức được ghi nhận thấp hơn so với saponin và flavonoids. Trên đất xám bạc màu, mức bón 40kg SiO­­2 trên nền 30N, 30P2O5, 30K2O phù hợp với cây mạch môn, giúp cây tích luỹ hoạt chất cao hơn các mức bón khác.

Từ khóa: Ophiopogon japonicus, thiếu nước, Silic, đặc điểm sinh lý, hoạt chất.



BÌA TẠP CHÍ KHNNVN