Bài chờ đăng - Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

Bài chờ đăng

Đăng ngày:17/01/ 2022

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HÀNH VI TIÊU DÙNG XANH

Chu Thị Kim Loan

Khoa Kế toán và QTKD, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Sự phát triển kinh tế của Việt Nam đang phải đối diện với áp lực gia tăng về mức độ ô nhiễm môi trường. Điều này đặt ra vấn đề cần thay đổi hành vi trong cả sản xuất và tiêu dùng để hướng tới nền kinh tế xanh. Dựa trên các kết quả nghiên cứu trước đây, bài viết này tổng hợp một số cơ sở lý luận về hành vi tiêu dùng xanh và thực trạng tiêu dùng xanh ở Việt Nam. Quan điểm về hành vi tiêu dùng xanh được phát triển dựa trên khái niệm hành vi tiêu dùng và sản phẩm xanh. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh thể hiện trong các nghiên cứu trước đây có thể được sắp xếp thành 2 nhóm chính là: cá nhân và tình huống. Những kết luận về mức độ tác động của chúng tới hành vi tiêu dùng xanh dù có sự tương đồng nhất định nhưng không phải là hoàn toàn đồng nhất. Tiêu dùng xanh ở Việt Nam đã nhận được sự quan tâm của các đối tượng trong xã hội nhưng vẫn còn gặp không ít trở ngại liên quan đến thói quen và nguồn lực.

Từ khóa: Tổng quan, Việt Nam, hành vi tiêu dùng, sản phẩm xanh.


ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN ĐỂN KHẢ NĂNG TĂNG TRƯỞNG QUẦN THỂ CỦA COPEPODA (Apocyclops panamensis Marsh, 1913)

Lê Minh Tuệ*, Nguyễn Phi Nam, Trần Thị Thu Sương, Nguyễn Văn Huy, Phan Thị Hương, Hà Thị Huệ

Khoa Thủy sản, trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế

Tóm tắt:

Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm ra được loại thức ăn tối ưu lên khả năng tăng trưởng quẩn thể của Copepoda. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 lần lặp lại trong các bình tam giác có thể tích 250 mL, copepoda được cho ăn với 3 loại thức khác nhau gồm nghiệm thức 1 (100% tảo Nanochloropsis oculata), nghiệm thức 2 (50% tảo Nanochloropsis oculata + 50% tảo Chaetoceros mulleri), nghiệm thức 3 (100% tảo Chaetoceros mulleri). Kết quả cho thấy, nghiệm thức 2 cho kết quả tăng trưởng cao nhất đạt 13,67 (ct/mL), tỷ lệ mang trứng đạt cao nhất ở nghiệm thức 3 với 0,42. Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến kích thước của Copepoda không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê (P >0,05).

Từ khóa: Copepoda, thức ăn, tăng trưởng, Thừa Thiên Huế.


 

ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ, THỨC ĂN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ MĂNG (Elopichthys bambusa Richardson, 1844) TỪ GIAI ĐOẠN CÁ BỘT LÊN CÁ GIỐNG

Nguyễn Hải Sơn1, Võ Văn Bình1, Nguyễn Hữu Quân1, Đặng Thị Lụa2

1Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Bắc.
2Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I.

Tóm tắt:

Thí nghiệm nuôi cá Măng (Elopichthys bambusa) từ cá bột lên cá giống ở mật độ, thức ăn khác nhau được thực hiện từ tháng 6-12/2020 tại Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản nước ngọt miền Bắc. Kết quả cho thấy cá Măng bột nuôi ở mật độ 4-5 con/lít có tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng cao hơn so với ương ở mật độ 6-7 con/lít. Với cá giống, nuôi ở mật độ 0,6 con/lít đạt tỷ lệ sống, tăng trưởng cao hơn so với nuôi ở mật độ 1 con và 1,2 con/lít. Sử dụng thức ăn 100%  động vật phù du (ĐVPD) và thức ăn 60% ĐVPD kết hợp 40% trùn chỉ để ương cá bột cho tỷ lệ sống, tốc độ sinh trưởng nhanh hơn khi sử dụng thức ăn 60 % ĐVPD kết hợp với 40 % bột cá (55% protein). Trong giai đoạn nuôi cá giống, sử dụng thức ăn là cá bột cá Mè, trùn chỉ và cá bột cá Mè (70%) kết hợp với 30% trùn chỉ có tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng cao hơn so với nuôi cá bằng thức ăn 70 % cá bột cá Mè kết hợp với 30 % thức ăn nuôi ấu trùng tôm sú (45% protein).

Từ khóa: Cá Măng, mật độ, thức ăn.


 

MÔ TẢ HÌNH THÁI ĐÁ TAI (SAGITTAL) CỦA MỘT SỐ LOÀI CÁ RẠN SAN HÔ TẠI VÙNG BIỂN CÁT BÀ VÀ THỔ CHU

Vũ Quyết Thành1, Trần Văn Đạt1, Phùng Văn Giỏi1, Trần Văn Hướng3 và Trần Công Thịnh4

1Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga
2Tài nguyên môi trường biển
3Viện Hải sản Hải Phòng.
4Viện Hải Dương học Nha Trang

Tóm tắt:

Nghiên cứu tập trung vào mục tiêu mô tả hình thái đá tai của 14 loài cá tại vùng biển Cát Bà (Hải Phòng) và Thổ Chu (Kiên Giang). Sử dụng phương pháp mô tả của các tác giả Harkonen, Campana, Svetocheva; Brodeur, kết quả nhận thấy chúng có nhiều hình dạng và cấu trúc khác nhau: hình elip cánh cung (Sargocentron rubrum…), hình lá (Hemiramphus sp…), hình đĩa (Plotosus lineatus…) …; chủy chính, đối chủy (Pentapodus setosus – dài rõ ràng; Sargocentron rubrum – không rõ ràng; …), giếng trước, giếng sau (Selaroides leptolepis – nông; Crenimugil pedaraki sâu; …),  khác nhau. Kích thước của đá tai được đo bằng phần mềm Olympus cellSens Standard 2.2 và gói ShapeR trong ngôn ngữ lập trình R, cho thấy kích thước trung bình OL, OW, P giữa các loài là khác nhau (F > 1; p < 0,05), trong đó kích thước đá tai cá đối đầu nhọn (Crenimugil pedaraki) là cao nhất (OL = 8,03±0,12; OW = 4,07±0,08; P = 24,38±0,15) và kích thước của cá liệt vây vàng (Nuchequula gerreoides) là nhỏ nhất (OL = 0,75±0,01; OW = 0,37±0,02; P = 1,35±0,112). Tỷ số giữa OL/OW cao nhất là loài cá bống tro (Acentrogobius caninus) (0,84) và nhỏ nhất là cá dóc (Alepes djedaba) (0,34), tỷ lệ này là khác biệt giữa các loài (F= 169,1; p<0,005). Đây là kết quả nghiên cứu về đá tai đầu tiên ở một số loài cá rạn san hô tại vùng biển Cát Bà và Thổ Chu.

Từ khóa: Cá rạn san hô, cấu trúc đá tai, hình thái đá tai, kích thước đá tai.


 

NGHIÊN CỨU NHU CẦU TIÊU DÙNG THỊT LỢN AN TOÀN SINH HỌC TẠI VIỆT NAM: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Lê Thanh Hà­1,2*, Đỗ Quang Giám­2, Trần Quang Trung2

1NCS Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Học viện nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu đề cập đến những vấn đề về lý luận và thực tiễn về nhu cầu tiêu dùng thịt lợn an toàn sinh học (ATSH) tại Việt Nam. Về mặt lý luận, nhu cầu tiêu dùng thịt lợn ATSH hướng tới các mục tiêu kép về an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và an toàn dịch bệnh. Bên cạnh đặc điểm người tiêu dùng, khả năng tiếp cận và nhận diện, các nguyên tắc chăn nuôi ATSH tác động đến những kỳ vọng của người tiêu dùng về sức khỏe, môi trường và dịch bệnh sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng thịt lợn ATSH. Về thực tiễn, gần đây, Bộ NN&PTNT Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển chăn nuôi theo hướng ATSH trên cả nước với sự gia tăng của tỉ lệ trang trại ATSH và hộ chăn nuôi ATSH.  Tuy nhiên, các nghiên cứu trong giai đoạn này về nhu cầu tiêu dùng thịt lợn ATSH còn rất hạn chế. Chính vì vậy, để phát triển chăn nuôi ATSH, cần thiết có những tổng kết những lý luận và thực tiễn về nhu cầu tiêu dùng để có thể nhận diện và đề xuất các giải pháp  hữu hiệu nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ thịt lợn ATSH.

Từ khóa: An toàn sinh học, an toàn thực phẩm, nhu cầu tiêu dùng, tiêu dùng thịt lợn.


XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG FLAVONOID TỔNG, ANTHOCYANIN TỔNG VÀ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA CỦA CÁC PHÂN ĐOẠN CAO CHIẾT HOA ĐẬU BIẾC (Clitoria ternatea)

Trương Văn Xạ*, Trần Kim Thoa, Nguyễn Thị Huỳnh Như

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long

Tóm tắt:

Cao chiết hoa đậu biếc (Clitoria ternatea) thu được bằng cách trích ly trong 2 loại dung môi là ethanol 60% và methanol 50%; các cao phân đoạn được rửa giải bằng hệ dung môi hexane: ethyl acetate có độ phân cực tăng dần. Kết quả nghiên cứu đã xác định được hiệu suất trích ly cao tổng ethanol lớn hơn so với cao tổng methanol lần lượt là 17,01% và 15,22%, so sánh với nguyên liệu. Hàm lượng flavonoid tổng trong phân đoạn 2 cao chiết methanol là 621,43±2,33 mg QE/g cao chiết và anthocyanin tổng trong phân đoạn 3 cao chiêt ethanol là 119,58±1,19 mg/g cao chiết lớn nhất.Hoạt tính chống oxy hóa của các cao chiết phân đoạn hoa đậu biếc được khảo sát thông qua khả năng khử H2O2 và gốc tự do DPPH. Trong đó, giá trị IC50 cao phân đoạn 3 methanol là 166,29±2,53 µg/ml, có khả năng khử H2O2mạnh hơn so với ascorbic acid là 176,23±3,21 µg/mL; giá trị IC50 của cao phân đoạn 2 và 3 methanol lần lượt là 589,27±4,09 µg/mL và 412,34±2,91 µg/mL đều khả năng khử DPPH mạnh hơn so với ascorbic acid 656,23±3,44 µg/mL. Như vậy, cao phân đoạn 3 với dung dung môi rửa giải ethyl acetate là thích hợp để tách chiết các hợp chất thực vật từ hoa đậu biếc có khả năng chống oxy hóa mạnh nhất.

Từ khóa: anthocyanin tổng, cao chiết, Đậu biếc, chống oxy hóa, flavonoid tổng.


 

APPLICATION OF WEB-GIS TO CONSTRUCT AN ONLINE MAP OF THE ECOPARK URBAN AREA, VAN GIANG DISTRICT, HUNG YEN PROVINCE

Tran Quoc Vinh1, Le Thi Giang1, Phan Van Khue1, Phan Trong Tien2, Doan Thanh Thuy1

1Faculty of Land management, Vietnam National University of Agriculture
2Faculty of Information Technology, Vietnam National University of Agriculture

Tóm tắt:

In the fourth industrial revolution, the use of the internet is indispensable in managing and sharing information of a country or a locality. Along with the strong development of the internet system and the need to share and look up information on the internet, the integration of GIS technology and web technology (WebGIS) is progressively and widely used. Online maps built with WebGIS have the advantages of ease of use, a large number of users, and providing support in managing, searching, and exploiting information anytime, anywhere. This study aimed to apply GIS technology to build a spatial database to manage nine layers of information about the Ecopark urban area, including housing, apartments, utilities, functional areas, traffic, rivers, canals, construction works, and planning areas. The programming languages HTML, CSS, PHP, and Google Maps JavaScript API were used to build an online map of the Ecopark urban area, and to manage 24 layers of objects according to their functions and purposes for residents and visitors at the website https://ecopark.timoday.edu.vn. This result will be the foundation for Ecopark urban area to develop a smart city in the future.

Từ khóa: Google Maps JavaScript API, GIS, WebGIS.


ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG DI TRUYỀN VÀ CẤU TRÚC QUẦN THỂ CHANH LEO (Passiflora edulis Sim.) NHẬP NỘI BẰNG CHỈ THỊ SRAP VÀ ISSR

Trần Đức Trung1*, Nguyễn Văn Viết2, Bùi Quang Đãng1

1Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
2Viện Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Nafoods

Tóm tắt:

Nhằm hỗ trợ xác định nguồn gen tiềm năng đáp ứng nhu cầu của công tác chọn, tạo giống chanh leo (Passiflora edulis Sims.), trong nghiên cứu này, đa dạng di truyền và cấu trúc quần thể của 31 mẫu giống chanh leo nhập nội (bao gồm loài chanh leo dại P. incarnata) đã được đánh giá bằng chỉ thị phân tử ISSR và SRAP. Qua sàng lọc đã xác định được 10/18 chỉ thị ISSR và 8/15 chị thị SRAP đáp ứng tính đặc hiệu và đa hình trên bộ mẫu giống chanh leo. Kết quả phân tích hệ số dị hợp tử H (0,43), hệ số thông tin đa hình PIC (0,35) và chỉ số năng lực phân biệt D (0,8) của các chỉ thị đạt mức cao, cho thấy sự đa dạng di truyền của bộ mẫu giống chanh leo. Cây phân nhóm di truyền Neighbor-Joining kết hợp với cấu trúc quần thể STRUCTURE đã phân chia các mẫu giống chanh leo thành 5 phân nhóm chính tương quan với màu sắc quả và nguồn gốc. Phân tích AMOVA đồng thời cho thấy nền di truyền của các mẫu giống có sự giao thoa lớn và là kết quả của sự lai tạo giữa các dạng chanh leo và có thể giữa các loài thuộc chi Passiflora. Kết quả này cung cấp cơ sở di truyền phục vụ công tác lưu giữ và khai thác các mẫu giống chanh leo nhập nội ở Việt Nam.

Từ khóa: Passiflora, đa dạng di truyền, cấu trúc quần thể, ISSR, SRAP.


TỐI ƯU HÓA MỨC SỬ DỤNG MỘT SỐ BỘT THẢO DƯỢC TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN HÀM LƯỢNG CHOLESTEROL TỔNG SỐ TRONG MÁU GÀ BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁP ỨNG BỀ MẶT

Hà Xuân Bộ*, Vũ Việt Anh, Đặng Thúy Nhung

Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu được tiến hành nhằm tối ưu hoá mức bổ sung các loại thảo dược trong khẩu phần nuôi gà đến hàm lượng cholesterol tổng số ở 8 và 16 tuần tuổi. Sáu loại thảo dược bao gồm: tỏi (Allium sativum), sài đất (Sphagneticola calendulacea), tía tô (Perilla fruitescens var. crispa), nghệ (Curcuma longa), gừng (Zingiber officinale) và trà xanh (Camellia sinensis) được sử dụng để trộn vào khẩu phần thức ăn nuôi gà. Tổng số 126 gà trống Đông Tảo (DT) nuôi tại trại thực nghiệm Khoa Chăn nuôi – Học viện Nông nghiệp Việt Nam từ tháng 04 đến tháng 9 năm 2021. Nghiên cứu này được thiết kế với hai thí nghiệm: (1) khảo sát các mức thảo dược, sàng lọc bằng ma trận Plackett – Burman và (2) thiết kế tối ưu hóa mức bổ sung thảo dược trong khẩu phần bằng phương pháp đáp ứng bề mặt (RSM) theo cấu trúc có tâm (CCD). Tỏi, nghệ, gừng và trà xanh có ảnh hưởng đến hàm lượng cholesterol tổng số trong máu gà. Hàm lượng cholesterol tổng số trong máu gà thấp nhất 2,80 mmol/L (8 tuần tuổi), 2,70 mmol/L (16 tuần tuổi) với mức bổ sung tỏi (0,833 và 0,882 g/kg), nghệ (0,420 và 0,441 g/kg), gừng (1,411 và 5,400 g/kg), trà xanh (5,221 và 6,215 g/kg). Hàm lượng cholesterol tổng số trong máu gà dự đoán theo mô hình ở 8, 16 tuần tuổi thấp nhất ở mức tương ứng 2,80 mmol/L và 2,70 mmol/L.

Từ khóa: cholesterol tổng số, phương pháp đáp ứng bề mặt, Plackett-Burman, thảo dược.


HIỆU QUẢ KĨ THUẬT TRONG CHĂN NUÔI VỊT BIỂN VÙNG VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

Nguyễn Văn Tuấn1, Vũ Tiến Vượng1, Tô Thế Nguyên2*, Nguyễn Công Tiệp1

1Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Đại học Kinh tế-Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt:

Nghiên cứu của chúng tôi áp dụng hàm cực biên ngẫu nhiên để ước lượng hiệu quả kỹ thuật (HQKT) và sử dụng dữ liệu điều tra các nông hộ chăn nuôi vịt ở 3 tỉnh ven biển (Thái Bình, Hải Phòng, Ninh Bình). Kết quả chỉ ra rằng HQKT trung bình trong chăn nuôi vịt đạt khá cao, mức 74,72% đối với chăn nuôi vịt thường và 97,8% đối với chăn nuôi vịt biển. Các yếu tố có tác động tích cực đến HQKT chăn nuôi vịt như: tuổi, kinh nghiệm, học vấn và hoạt động liên kết. Chúng tôi khuyến nghị rằng các nhà làm chính sách có thể dựa trên các phát hiện từ kết quả nghiên cứu này để giúp các nông hộ có thể xem xét việc mở rộng quy mô chăn nuôi vịt biển trong tương lai.

Từ khóa: Hiệu quả kỹ thuật, Hàm sản xuất biên, Chăn nuôi vịt biển.


ƯU THẾ LAI VÀ KHẢ NĂNG KẾT HỢP VỀ NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG GIỮA CÁC DÒNG NGÔ NẾP TÍM VÀ NGÔ NGỌT

Nguyễn Thị Nguyệt Anh1*, Nguyễn Trung Đức1, Vũ Văn Liết2, Phạm Quang Tuân1

1Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng kết hợp về năng suất, chất lượng giữa ngô nếp tím và ngô ngọt. Một phép lai diallel đầy đủ theo mô hình Griffing I, phương pháp 1 giữa sáu dòng thuần ngô (ba dòng nếp tím, ba dòng ngọt vàng) được thiết kế trong vụ Thu Đông 2020. Sáu dòng bố mẹ, ba mươi tổ hợp lai F1 (THL) được đánh giá trong vụ Xuân 2021. Các thí nghiệm bố trí khối ngẫu nhiên hoàn toàn, ba lần nhắc lại tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. GCA/SCA<0,5 ở hầu hết các tính trạng cho thấy hoạt động của các gen không cộng tính ý nghĩa hơn hoạt động của các gen cộng tính đối với di truyền các tính trạng này. SCA quan trọng hơn GCA trong tạo giống ngô lai chất lượng. Hiệu ứng tương hỗ (REC) cho thấy phép lai giữa nếp tím × ngọt đem lại hiệu quả hơn so với ngọt × nếp tím. Bảy THL có tiềm năng thương mại hóa, với SCA cao về các tính trạng năng suất, chất lượng gồm: THL1, THL2 (nếp tím); THL4, THL5, THL13 (nếp ngọt tím); THL20, THL30 (ngọt vàng). Theo hiểu biết của chúng tôi, đây là nghiên cứu đầu tiên đánh giá REC giữa ngô nếp tím và ngô ngọt, cung cấp cái nhìn sâu sắc về cơ chế di truyền để cải thiện các tính trạng chất lượng ngô ở Việt Nam.

Từ khóa:Lai diallel đầy đủ, ưu thế lai, purple, waxy, sweet.


THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THỨC ĂN CHĂN NUÔI NỘI ĐỊA TẠI VIỆT NAM

Nguyễn Đăng Học1, Bùi Thị Khánh Hòa2

1Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phản ánh thực trạng kế toán quản trị chi phí môi trường (KTQTCPMT) trong các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi (TĂCN) nội địa tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chỉ ra, mức độ thực hiện các nội dung KTQTCPMT trong các doanh nghiệp sản xuất TĂCN nội địa tại Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu mới ở mức bước đầu ghi nhận chi phí môi trường (CPMT). Hầu hết các doanh nghiệp chưa thực hiện xây dựng định mức và lập dự toán riêng cho CPMT và chúng không được theo dõi chi tiết, tách biệt mà đang được theo dõi tổng quát trên các tài khoản chung. Đặc biệt, không có doanh nghiệp nào thực hiện lập báo cáo CPMT riêng mà chỉ có một số doanh nghiệp tích hợp thông tin CPMT trên báo cáo chi phí chung. Nghiên cứu đã đề xuất một số khuyến nghị đối với doanh nghiệp nhằm góp phần hoàn thiện KTQTCPMT trong thời gian tới.

Từ khóa: Chi phí môi trường, Kế toán quản trị chi phí môi trường, Thức ăn chăn nuôi.


VẬN DỤNG MÔ HÌNH SCP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CÁ BỐNG BỚP ỔN ĐỊNH TẠI HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH

Bùi Thị Mai Linh, Nguyễn Thị Thu Trang, Nguyễn Thị Kim Oanh, Đoàn Thị Ngọc Thúy

Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Mục đích nghiên cứu nhằm phân tích mức độ ảnh hưởng của cấu trúc và hành vi đến hiệu quả thị trường trên cơ sở đó phát triển thị trường ổn định và đem lại hiệu quả cao cho các hộ nuôi cá bống bớp trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định. Nghiên cứu được tiến hành 217 mẫu với phương thức điều tra phỏng vấn trực tiếp, dữ liệu thu thập được phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của cấu trúc và hành vi đến hiệu quả thị trường. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy các nhân tố cấu trúc, hành vi thực hiện đều có tác động thuận chiều đến hiệu quả thị trường, riêng nhân tố chi phí không có ảnh hưởng đến chính sách thủy sản chung. Mô hình nghiên cứu đã chỉ ra nhân tố lợi thế cạnh tranh có tác động mạnh nhất đến chính sách thủy sản(0,414) và sử dụng nguyên liệu đầu vào (0,345); cạnh tranh ngành có ảnh hưởng lớn nhất trong bảo đảm chất lượng (0,145) và nhân tố đảm bảo chất lượng (0,353) có tác động tích cực nhất trong nâng cao hiệu quả và phát triển thị trường ổn định, từ đó nghiên cứu đề xuất một số giải pháp trong đẩy mạnh các nhân tố này.

Từ khóa: Cấu trúc, hành vi, hiệu quả.


Nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam –chi nhánh Bắc Ninh

Dương Thị Giang*, Nguyễn Công Tiệp, Bùi Thị Nga

Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Trong những năm gần đây, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được nhìn nhận như là một trong những “trụ cột” tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Sau 20 năm xây dựng và phát triển, các khu công nghiệp Bắc Ninh đã chứng minh được năng lực vượt trội, đó là sức hút FDI liên tục tăng, đưa Bắc Ninh từ một tỉnh nông nghiệp vươn lên đứng tốp đầu toàn quốc về thu hút đầu tư. Hiện tại, hoạt động tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp FDI tại Vietcombank Bắc Ninh đã được chú trọng phát triển, tuy nhiên so với tiềm năng khai thác đối tượng FDI trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thì hiệu quả đạt được chưa cao, thị phần còn hạn chế. Nghiên cứu được thực hiện thông qua việc thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp, trong đó có khảo sát với các doanh nghiệp FDI đang có dư nợ tại ngân hàng để có những đánh giá về chất lượng tín dụng hiện tại. Kết quả là có 4 yếu tố cơ bản: chính sách tín dụng, quy trình tín dụng, năng lực phục vụ, sự tin cậy là nhóm yếu tố được khách hàng quan tâm nhiều, cần được ngân hàng chú trọng nhiều hơn. Đây là căn cứ quan trọng để các nhà hoạch định chính sách, các lãnh đạo của ngân hàng Vietcombank có những giải pháp phát triển phù hợp với việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp FDI trong tương lai.

Từ khóa: đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); vietcombank Bắc Ninh, chất lượng tín dụng, khách hàng doanh nghiệp FDI.


ẤU TRÙNG RUỒI LÍNH ĐEN: TRIỂN VỌNG ĐA CHIỀU TRONG QUẢN LÝ CHẤT THẢI HỮU CƠ, NGUỒN THỨC ĂN CHO NGÀNH CHĂN NUÔI VÀ PHÂN BÓN CHO CÂY TRỒNG

Lưu Thị Thùy Linh1 và Nguyễn Thị Nhiên1*

1Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp đã làm ngành chăn nuôi Việt Nam chịu rất nhiều ảnh hưởng từ giá đầu ra của các sản phẩm bị giảm mạnh, trong khi đó giá nguyên liệu đầu vào lại tăng cao gây nhiều khó khăn cho hoạt động tái sản xuất. Để giảm thiểu áp lực bền vững thì côn trùng hoặc ấu trùng của chúng có thể là nguồn đạm thay thế đầy hứa hẹn. Kết quả tổng hợp thông tin, số liệu từ các nghiên cứu trước cho thấy ấu trùng ruồi lính đen có khả năng chuyển đổi chất thải hữu cơ tạo nguồn đạm chất lượng cao, kiểm soát một số vi khuẩn và côn trùng gây hại, cung cấp các tiền chất hóa học tiềm năng để sản xuất dầu diesel sinh học và cung cấp nguồn dinh dưỡng giá trị cao sử dụng làm thức ăn chăn nuôi. Bằng phương pháp nghiên cứu tại bàn bài tổng quan này nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan về các đặc điểm sinh học của ruồi lính đen, vai trò của nó trong quản lý chất thải thân thiện với môi trường;tiềm năng của nó trong chăn nuôi cá, gia cầm và các ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi của Việt Nam, cũng như dịch thủy phân làm phân bón cho cây trồng.

Từ khóa: Ruồi lính đen, lợi ích, tiềm năng.


ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CHỦNG Rhodococcus sp. BPTC-316 CÓ KHẢ NĂNG PHÂN HỦY CHLORPYRIFOS VÀ KHÁNG NẤM

Nguyễn Mạnh Tuấn1*, Nguyễn Thu Hương2, Trương Phúc Hưng2, Nguyễn Viết Hưng1, Đỗ Bích Duệ1, Đỗ Thị Hiền1

1Viện Khoa học Sự sống – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
2Khoa công nghệ Sinh học – Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên

Tóm tắt:

Nghiên cứu được triển khai nhằm tuyển chọn được chủng vi khuẩn đất có khả năng phân hủy mạnh chlorpyrifos và sản sinh hoạt chất kháng nấm. Chủng BPTC-316 có hoạt tính sinh học cao nhất trong tổng số 32 chủng tiềm năng phân lập được thông qua sử dụng môi trường chọn lọc, đặc điểm nuôi cấy và phân tích trình tự gen 16S rRNA. Chủng BPTC-316 gần nhất (99,78%) với Rhodococcus tukisamuensis JCM 11308T (AB067734) dựa trên phân tích trình tự gen 16S rRNA. Chủng BPTC-316 có khả năng phân hủy 96,8% chlorpyrifos sau 10 ngày nuôi cấy. Bên cạnh đó, hoạt chất sinh học tổng số tách chiết từ chủng BPTC-316 có khả năng ức chế sinh trưởng cả hai chủng nấm kiểm định Fusarium oxysporum KACC 41083 và Phytophthora capsici KACC 40483 với đường kính vòng kháng nấm lần lượt là 17,6 và 16,8 mm.

Từ khóa: Rhodococcus sp., chlorpyrifos, Fusarium sp., Phytophthora sp., kháng nấm.


THỬ NGHIỆM KẾT HỢP NANO BẠC VÀ FLORFENICOL TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH DO VI KHUẨN Aeromonas veronii TRÊN CÁ NHEO MỸ (Ictalurus punctatus)

Nguyễn Thị Dung, Lê Việt Dũng, Kim Văn Vạn, Trương Đình Hoài*

Khoa Thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá khả năng kháng khuẩn khi sử dụng kết hợp florfenicol và nano bạc và điều trị bệnh nhiễm khuẩn do Aeromonas veronii gây ra trên cá Nheo mỹ ở quy mô phòng thí nghiệm. Tính nhạy của vi khuẩn A. veronii với nano bạc và kháng sinh florfenicol đánh giá ở điều kiện in vitro thông qua kiểm tra vòng vô khuẩn dựa trên sự khuếch tán của kháng sinh trên thạch. Thí nghiệm điều trị thực nghiệm in vivo trong phòng thí nghiệm được thực hiện bằng cách cảm nhiễm cá Nheo mỹ khỏe với liều nhiễm LD50 và cho cá ăn thức ăn có trộn thuốc với các tỷ lệ phối trộn khác nhau giữa florfenicol và nano bạc. Kết quả thí nghiệm in vitro cho thấy khi kết hợp kháng sinh florfenicol 10 ppm và nano bạc 5ppm có tác dụng diệt khuẩn tốt tương đương như khi sử dụng kháng sinh florfenicol (15ppm). Sau 7 ngày điều trị cá cảm nhiễm bệnh cho thấy sự kết hợp kháng sinh florfenicol và nano bạc có tác dụng điều trị tốt tương đương so với chỉ sử dụng kháng sinh.

Từ khóa: nano bạc, florfenicol, A. veronii, Cá Nheo mỹ.


ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CẤP HUYỆN Ở VÙNG NÚI TÂY BẮC VIỆT NAM: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI TỈNH SƠN LA

Nguyễn Anh Tuấn1, Nguyễn Thị Bích Yên2*

1Học viên cao học ngành khoa học môi trường khoá 28, Khoa Tài nguyên và Môi trường, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
2Bộ môn Sinh thái Nông nghiệp, Khoa Tài nguyên và Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu được đánh giá ở cấp huyện của tỉnh Sơn La dựa trên khung khái niệm của IPCC, trong đó tính dễ bị tổn thương là hàm số của các thành phần mức phơi bày, mẫn cảm và khả năng thích ứng. Tổng số 32 chỉ tiêu thuộc ba thành phần này đã được lựa chọn và gán trọng số dựa trên phương pháp phân tích thứ bậc. Giá trị của các chỉ tiêu này được thu thập dựa vào số liệu thứ cấp. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 trong tổng số 12 huyện của tỉnh Sơn La có tính dễ bị tổn thương ở mức từ cao đến rất cao. Trong đó huyện Phù Yên có tính dễ bị tổn thương cao nhất do có cả mức phơi bày và mẫn cảm rất cao với biến đổi khí hậu, trong khi đó khả năng thích ứng chỉ ở mức trung bình. Thành phố Sơn La và huyện Mộc Châu có mức dễ bị tổn thương thấp nhất. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến tính dễ bị tổn thương. Những kết quả này có ý nghĩa đối với các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu một cách phù hợp và hiệu quả cho tỉnh Sơn La.

Từ khóa: Tính dễ bị tổn thương; Biến đổi khí hậu; Khả năng thích ứng; Tây Bắc; Sơn La.


ẢNH HƯỞNG CỦA FUCOIDAN BỔ SUNG VÀO THỨC ĂN LÊN TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ RÔ PHI (Oreochromis niloticus) GIAI ĐOẠN GIỐNG VÀ KHẢ NĂNG CẢI THIỆN TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ KHI GÂY NHIỄM VI KHUẨN Aeromonas veronii

Trần Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Thị Dung, Trần Thị Nắng Thu

Khoa Thủy sản, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng của hoạt chất fucoidan chiết xuất từ rong nâu Sargassum swartzii lên tăng trưởng, tỷ lệ sống, hệ số chuyển hóa thức ăn và khả năng kháng bệnh đối với vi khuẩn Aeromonas veronii ở cá rô phi giống (Oreochromis niloticus). Cá (23,2 ± 2,7g) được cho ăn thức ăn công nghiệp 35% Protein có bổ sung fucoidan ở các hàm lượng khác nhau (0%; 0,05%; 0,1%; 0,5%) trong 6 tuần, mỗi loại thức ăn được lặp lại 3 lần. Kết quả cho thấy fucoidan không ảnh hưởng (P>0,05) đến tăng trưởng, tỷ lệ sống và hệ số thức ăn của cá thí nghiệm. Sau khi kết thúc 6 tuần nuôi trên, cá được cảm nhiễm vi khuẩn A.veronii với liều LD50 được xác định là 7,82 x 104 CFU/mL, số cá chết được theo dõi trong 10 ngày sau đó. Tỷ lệ sống của cá khi bị nhiễm A.veronii đã tăng từ 30% ở nghiệm thức không bổ sung fucoidan và 36,7% ở nghiệm thức bổ sung tỷ lệ thấp (0,05%) lên đến 76,6-80 % ở nghiệm thức bổ sung fucoidan với nồng độ cao hơn (0,1% và 0,5%). Trong nghiên cứu này, chúng tôi kết luận rằng bổ sung fucoidan chiết xuất từ rong biển Sargassum swartzii vào thức ăn với tỷ lệ 0,1% và 0,5% sẽ làm tăng sức đề kháng của cá rô phi giống đối với bệnh do vi khuẩn Aeromonas veronii gây ra.

Từ khóa: Fucoidan, kháng bệnh, Aromonas veronii, cá rô phi.


MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA CÁC CHỦNG PHÂN LẬP CANINE PARVO VIRUS TYPE 2 GÂY BỆNH VIÊM RUỘT TRÊN CHÓ Ở PHÍA BẮC VIỆT NAM

Trương Quang Lâm*, Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thị Yến, Nguyễn Thị Hoa, Lê Thị Luyên

Khoa Thú y Học Viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Bệnh viêm ruột do Canine parvo virus gây ra là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm đối với mọi giống chó đang nuôi tại nước ta. Trong nghiên cứu này, các chủng Canine parvovirus phân lập tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam đã được xác định genotype và một số đặc tính sinh học trên môi trường tế bào CRFK. Kết quả nghiên cứu đã phân lập được 3 chủng CPV: VNUA.CPV.HN01, VNUA.CPV.HN04 và VNUA.CPV.HY05 trên môi trường tế bào CRFK từ 30 mẫu bệnh phẩm. Kết quả phân tích cây phả hệ cho thấy các chủng phân lập đều thuộc nhóm genotype CPV2c. Các chủng virus phân lập không gây bệnh tích ở đời đầu tiên mà phải qua từ 2 đến 4 đời cấy chuyển mù mới có khả năng gây bệnh tích trên tế bào CRFK. Thời điểm xuất hiện bệnh tích tối thiểu 24 giờ sau gây nhiễm và phá hủy hoàn toàn tế bào sau 60 – 72 giờ nuôi. Hiệu giá virus thu được cao, đạt 107,47 TCID50/ml đối với chủng VNUA.CPV.HN04 được phân lập ở Hà Nội. Đường cong sinh trưởng của các chủng nghiên cứu đạt cao nhất ở thời điểm 60-72 giờ và sau đó giảm dần.

Từ khóa: Canine parvo virus; Phân lập; PCR; Giải trình tự; Đặc điểm sinh học.


ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH TẠI TÂY NGUYÊN

Nguyễn Thu Thùy*, Trần Đức Viên, Nguyễn Thanh Lâm, Nông Hữu Dương

Khoa Tài nguyên và Môi Trường, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng sản xuất lâm nghiệp của hộ tại Tây Nguyên. Kết quả nghiên cứu thu được từ phỏng vấn bán cấu trúc 175 hộ có trồng cây lâm nghiệp và phỏng vấn sâu 28 cán bộ chủ chốt cho thấy, mô hình trồng xen cây lâm nghiệp + cây công nghiệp +/cây ăn quả hiện được áp dụng phổ biến nhất. Thành phần loài cây lâm nghiệp được trồng trong hệ thống sử dụng đất của hộ tương đối đa dạng (23 loài cây chính), trong đó Bời lời đỏ (Litsea glutinosa), Muồng đen (Cassia siamea), Gòn (Ceiba pentandra), Mắc ca (Macadamia integrifolia) là nhóm loài cây lâm nghiệp chủ đạo được nhiều hộ lựa chọn trồng. Tuy nhiên, thiếu đất canh tác, thiếu vốn để duy trì hệ thống và hiệu quả kinh tế mang lại từ cây lâm nghiệp thấp hơn so với các loài cây khác được xem là những rào cản chính trong phát triển sản xuất lâm nghiệp của các hộ đồng bào vùng Tây Nguyên. Hộ có xu hướng ưu tiên lựa chọn loài cây gỗ đa tác dụng hay các loài cây lâm sản ngoài gỗ để trồng trong hệ thống sản xuất của họ.

Từ khóa: Lâm nghiệp bền vững, sản xuất lâm nghiệp, Tây Nguyên.


VI KHUẨN Bacillus sp. NỘI SINH PHÂN LẬP TỪ CỎ MẦN TRẦU (Eleusine indica) CẢI THIỆN HIỆU QUẢ KHẢ NĂNG LOẠI BỎ AMONI TRONG NƯỚC NUÔI TÔM

Đỗ Quang Trung 1*, Trần Thị Tuyết Thu2, Lưu Thế Anh1

1Viện Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội, 19 Lê Thánh Tông – Hoàn Kiếm – Hà Nội.
2Trường Đại Khoa học Tự Nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, 344 Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – Hà Nội

Tóm tắt:

Sàng lọc các chủng Bacillus sp. chịu mặn và oxy hóa amoni nhằm loại bỏ amoni trong nước thải nuôi tôm đang được các nhà khoa học quan tâm. Trong nghiên cứu này, đã sàng lọc được 08 chủng Bacillus sp. từ các vi khuẩn nội sinh phân lập từ cỏ Mần Trầu. Hai chủng được lựa chọn là MT50 và MT51 có các đặc tính như: hiệu suất loại bỏ amoni cao (lần lượt là 80,36 và 82,24%), pH tối ưu là 7 và sinh trưởng tốt trong môi trường có nồng độ muối cao (4% NaCl). Ngoài ra, hai chủng này cũng cho thấy khả năng cải thiện nước thải nuôi tôm ở điều kiện phòng thí nghiệm. Thí nghiệm TN1 với 1% huyền phù tế bào chủng MT51 cho thấy lượng amoni bị loại bỏ cao nhất (62,38%), trong khi kết quả của các nghiệm thức khác không có ý nghĩa (P > 0,05). Thí nghiệm TN2, cả 2 chủng Bacillus sp. đều loại bỏ amoni từ 72,25 và 78,85% ở ngày thứ 7. Thí nghiệm TN3, chủng MT51 cho hiệu quả loại bỏ amoni cao nhất với tỷ lệ bổ sung 1% huyền phù tế bào ở ngày thứ 4 là 79,91%. Kết quả cũng cho thấy sự hình thành của nitrit và nitrat trong các thí nghiệm và các chất này được loại bỏ bởi các chủng Bacillus sp. nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy 02 chủng Bacillus sp. phân lập được có thể là loài khử nitrat hiếu khí dị dưỡng.

Từ khóa: Loại bỏ amoni, Nitrat hóa- phản nitrat hóa, vi khuẩn nội sinh, Bacillus sp. chịu mặn.


ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT ĐÁY VÀO MÙA MƯA Ở KHU VỰC NUÔI TÔM, TỈNH CÀ MAU

Âu Văn Hóa1, Trần Trung Giang1 Nguyễn Thị Kim Liên1, Huỳnh Thị Ngọc Hiền1, Vũ Ngọc Út1 và Huỳnh Trường Giang1

1Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ

Tóm tắt:

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tính đa dạng thành phần loài động vật đáy ở khu vực nuôi tôm vào mùa mưa tỉnh Cà Mau để tìm hiểu sự thay đổi về thành phần loài, mật độ của chúng tại khu vực này và làm cơ sở cho việc xây dựng quan trắc sinh học về môi trường nước ở khu vực nuôi tôm nước lợ. Thu mẫu động vật đáy (ĐVĐ) tại 9 điểm vào mùa mưa ở tháng 6 và tháng 9 năm 2019. Kết quả ghi nhận 34 loài, 31 giống, 24 họ, 16 bộ, 5 lớp thuộc 3 ngành. Số loài theo từng đợt thu dao động từ 2 – 11 loài tương ứng với mật độ từ 9 – 2.547 cá thể/m2. Tổng số loài ĐVĐ vào tháng 6 là 23 loài thấp hơn so với tháng 9 với 25 loài; tổng số lượng cá thể vào thời điểm tháng 6 cao hơn gấp 2,5 lần so với tháng 9. Thành phần loài và mật độ lớp Gastropoda chiếm cao nhất. Ở mức độ tương đồng 18,9% cho thấy sự phân bố ĐVĐ tại 9 vị trí thu mẫu chia thành ba nhóm tại khu vực nghiên cứu. Chỉ số đa dạng Shannon (H’) dao động từ 0,3 – 1,8 cho thấy mức độ đa dạng ĐVĐ theo vị trí và thời gian thu mẫu đạt mức rất thấp đến vừa ở khu vực nuôi tôm vào mùa mưa, tỉnh Cà Mau.

Từ khóa: Đa dạng, động vật đáy, mật độ, thành phần loài, tỉnh Cà Mau.


NGUỒN LỢI RONG BIỂN QUẦN ĐẢO NAM DU, KIÊN GIANG

Đỗ Anh Duy1*, Trần Văn Hướng1, Đỗ Văn Khương1, Đàm Đức Tiến2

1 Viện nghiên cứu Hải sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
2 Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng nguồn lợi rong biển phân bố tại vùng biển ven quần đảo Nam Du, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. Trong bốn chuyến điều tra, khảo sát của ba năm từ năm 2017 đến năm 2019, sử dụng phương pháp điều tra thực địa lặn sâu có khí tài SCUBA, kết hợp với thu mẫu, đã xác định được 96 loài rong biển thuộc 51 chi, 35 họ, 20 bộ của 4 ngành rong. Phát hiện được 1 loài rong cùi bắp cạnh (Tubinaria decurrens) thuộc danh mục các loài sinh vật nguy cấp, quý, hiếm cần ưu tiên bảo vệ trong Sách Đỏ Việt Nam (2007). Kết quả đánh giá độ phủ rong biển tại các trạm khảo sát đạt giá trị trung bình 17,0 ± 3,8%; với sinh lượng trung bình đạt 1.946 ± 217 g/m2. Trữ lượng nguồn lợi rong biển phân bố tập trung trên diện tích khoảng 90ha quanh quần đảo ước tính đạt 1.751 ± 195 tấn tươi. Một số chi rong biển chiếm ưu thế về nguồn lợi như chi rong loa (Turbinaria), rong mơ (Sargassum), rong quạt (Padina), rong mào gà (Palisada)… Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc định hướng phát triển và quản lý nguồn lợi rong biển tại vùng biển ven quần đảo này.

Từ khóa: Nguồn lợi, rong biển, quần đảo Nam Du, Kiên Giang.


NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA CHÓ VÀ MÈO

Lê Đức Ngoan, Đinh Văn Dũng

Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế

Tóm tắt:

Chó và mèo là hai loại vật nuôi gần gũi với con người từ xa xưa. Nước ta có hơn 5 triệu gia đình nuôi chó hoặc mèo với hơn 7,5 triệu con, tương đương với số lượng trâu bò của cả nước. Xu hướng nuôi chó và mèo làm thú cưng ngày càng lớn nên người nuôi quan tâm nhiều đến nhu cầu dinh dưỡng tối ưu để đảm bảo sức khoẻ (con vật có thân hình cân đối, không béo phì) hơn là thoả mãn dinh dưỡng tối đa. Mục tiêu của bài báo này là tổng quan nhu cầu các chất dinh dưỡng cơ bản của chó và mèo dựa trên khuyến cáo của NRC (2006), AAFCO (2014) và FEDIAF (2017) và một số nghiên cứu khác. Chó và mèo đều là động vật ăn thịt, nhu cầu năng lượng cao hơn vật nuôi khác (4.000 kcal năng lượng trao đổi/kg thức ăn), nhu cầu protein thô của chó (18 – 23%) thấp hơn mèo (20 – 33%) nhưng lớn hơn gia súc, gia cầm, và nhu cầu một số chất dinh dưỡng cũng rất khác biệt so với vật nuôi truyền thống.

Từ khóa: Chó, dinh dưỡng, mèo, nhu cầu, năng lượng, protein.


ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ LÂY NHIỄM VIRUS GÂY BỆNH TIÊU CHẢY CẤP Ở LỢN TẠI LÒ MỔ DỰA TRÊN PHÂN TÍCH MẠNG LƯỚI VẬN CHUYỂN

Mai Thị Ngân1, Trần Thị Hương Giang1, Lại Thị Lan Hương1, Vũ Việt Anh2

1Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Khoa Chăn nuôi thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Bệnh tiêu chảy cấp tính ở lợn (Porcine Epidemic Diarrhea- PED) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus PED (PEDV) gây ra với tỷ lệ chết cao gây thiệt hại kinh tế lớn. Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi là đánh giá nguy cơ nhiễm chéo PEDV giữa các trại lợn dựa vào phương pháp phân tích mạng lưới vận chuyển lợn tại một số lò mổ ở miền Bắc. Kết quả tóm tắt dữ liệu của 128 trại đã chỉ ra trong 4 lò mổ, SL2 là lò mổ có số lượng trại vận chuyển đến nhiều nhất (76 trại) trong đó 30,3% số trại dương tính với PEDV. Kết quả phân tích mạng lưới vận chuyển cho thấy, tổng số có 132 điểm, 148 đường liên kết và SL2 là điểm trung tâm nhất với giá trị mức độ trung tâm cao nhất là 82. Tỷ lệ trại dương tính với PEDV trong 7 cụm điểm dao động từ 16,7 đến 44% trong đó cụm SL1, SL2, SL3 có nhiều điểm hơn đồng thời có tỷ lệ dương tính với PEDV cao hơn các cụm khác. Nguy cơ một trại nhiễm PEDV khi tiếp xúc với SL1, SL2, SL3 cao hơn khi tiếp xúc với SL4 là 3,57, 2,17 và 3,24 lần.

Từ khóa: bệnh tiêu chảy cấp ở lợn, lò mổ, mạng lưới vận chuyển, nguy cơ.


ĐÁNH GIÁ TỶ LỆ NỞ, TỶ LỆ SỐNG VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA HAI DÒNG CÁ CHÉP TATA VÀ SZARVAS P3 MỚI NHẬP NỘI TỪ HUNGARY VÀO VIỆT NAM

Nguyễn Hải Sơn, Võ Văn Bình, Lê Ngọc Khánh, Lê Khánh Thùy Linh, Mai Văn Tài, Nguyễn Thị Là

Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Bắc.
Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I.

Tóm tắt:

Thí nghiệm ấp trứng, ương, nuôi cá chép Tata và cá chép Szavas P3 nhập từ Hungary về Việt Nam được thực hiện từ tháng 7/2019 – 12/2020 tại Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản nước ngọt miền Bắc. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá được tỷ lệ nở, tỷ lệ sống của cá bột, cá hương, cá giống và tốc độ tăng trưởng của cá qua từng giai đoạn để phục vụ công tác chọn giống. Kết quả cho thấy thời gian nở của trứng cá chép Tata là 61,8 ± 2,1 giờ, cá chép Szavas P3 là 62,2 ± 3,3 giờ tương đương tỷ lệ nở là 91,5 ± 2,8 và 93,3± 3,4%, tỷ lệ dị hình là 1,2 ± 0,6% và 1,3 ± 0,4%. Tỷ lệ sống của cá hương Tata là 62,5 ± 3,4%, Szavas P3 là 67,5 ± 4,6 %. Tỷ lệ sống của cá chép giống Tata là 48,7%, cá chép Szarvas P3 là 53,3%. Tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài và khối lượng cá Tata trong giai đoạn nuôi cá giống là 6,8 ± 1,26 mm/ngày và 0,51 ± 0,08 gam/ngày, cá Szarvas P3 là 6,3 ± 1,5 mm/ngày và 0,49 ± 0,04 gam/ngày. Sau 12 tháng nuôi, khối lượng trung bình và chiều dài thân cá chép Tata đạt 1.670,5± 10,2 gam/con và 50,2± 7,1cm/con, cá chép Szavas P3 đạt 1.565,5± 10,2gam/con và 49,3± 7,7cm/con. Hệ số chuyển đổi thức ăn đối với cá Tata và Szavas P3 lần lượt là 2,0 và 1,9. Kết quả ấp trứng, ương, nuôi cho thấy cá chép Tata và chép Szavas P3 đã đảm bảo được các chỉ tiêu để làm vật liệu di truyền phục vụ công tác chọn giống cá chép mới.

Từ khóa: Cá chép, nhập nội, Hungary, Szavas P3, Tata.


ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM β-GLUCAN VÀ VI SINH VẬT CÓ LỢI TỚI T LỆ SỐNG, SỨC ĐỀ KHÁNG BỆNH DO VI KHUẨN STREPTOCOCCUS AGALACTIAE GÂY RA TRÊN CÁ RÔ PHI (O. NILOTICUS)

Kim Minh Anh, Nguyễn Văn Duy, Trương Đình Hoài & Kim Văn Vạn

Khoa Thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định những ảnh hưởng của một số chủng vi sinh vật có lợi và β-glucan được bổ sung vào thức ăn lên tỷ lệ sống và sức đề kháng bệnh do vi khuẩn S. agalactiae trên cá rô phi (O. niloticus) tại Khoa Thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Cá thí nghiệm được ăn thức ăn bổ sung bổ sung hỗn hợp vi sinh vật có lợi (NT1), β-glucan (NT2), 50% vi sinh vật có lợi + 50% β-glucan (NT3) theo liệu trình 5 ngày ăn thức ăn bổ sung và 5 ngày ăn thức ăn bình thường trong thời gian 30 ngày sau đó tiến hành cám nhiễm vi khuẩn S. agalactiae gây bệnh bằng cách trộn thức ăn với liều 109CFU/kg thức ăn. Thí nghiệm được thực hiện với 3 lần lặp trong 12 bể xi măng có thể tích 8,0 m3 /bể thả 30 con/m3 cỡ 42 g/con. Kết quả thử nghiệm chỉ ra rằng cá rô phi được ăn thức ăn có bổ sung β-glucan có thời gian xuất hiện bệnh chậm hơn (48h so với 44, 40 và 38 h ở TN3, TN1 và ĐC), tỷ lệ cá chết do bệnh thấp hơn (8% so với 15-16%) và tỷ lệ điều trị khỏi bệnh cao hơn lô bổ sung vi sinh vật có lợi và lô đối chứng.

Từ khóa: β-glucan, Cá Rô phi, Streptococcus agalactiae.


THỬ NGHIỆM NANO BẠC TRONG ĐIỀU TRỊ TRÙNG QUẢ DƯA ICHTHYOPHTHIRIUS MULTIFILIIS TRÊN CÁ LÓC (CHANNA ARGUS)

Lê Việt Dũng*

Khoa Thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

 

Tóm tắt:

Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả của nano bạc trong việc điều trị bệnh do trùng quả dưa gây ra trên cá lóc in vitroin vivo. Ở thí nghiệm in vitro, tỉ lệ chết của trùng ở giai đoạn ký sinh (Trophont) và giai đoạn sinh sản (Tomont) được xác định ở các nồng độ nano bạc 0; 0,1; 0,5; 1; 1,5 ppm tại các thời điểm 0,25; 0,5; 1; 2; 6; và 12h. Nano bạc có hiệu quả trong việc tiêu diệt trùng ở cả 2 giai đoạn trophont và tomont. Nồng độ 1,5 ppm cho kết quả tiêu diệt trùng cao nhất, sau 12h tỷ lệ trùng chết ở cả 2 giai đoạn trophont và tomont lần lượt là 95,45% và 98,15%. Trong thử nghiệm 7 ngày in vivo đối với cá lóc (~3g), cá ở nghiệm thức 1,5; 1 và 0 ppm nano bạc chết toàn bộ ở ngày thứ 1, 1, và 6, tương ứng. Tỷ lệ sống ở nghiệm thức 0,1 và 0,5 ppm đạt 63,3% và 33,3% vào ngày thứ 7. Như vậy, nano bạc có khả năng tiêu diệt trùng quả dưa nhưng cũng có khả năng gây độc cho cá lóc cỡ 3 g.

Từ khóa:cá lóc, Ichthyophthirius, cá lóc, nano bạc, trùng quả dưa.


ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG GÂY MÊ VÀ ĐỘ AN TOÀN CỦA ISOFLURANCE ĐƯA THEO ĐƯỜNG HÔ HẤP VÀ ZOLETIL 50 THEO ĐƯỜNG TĨNH MẠCH TRONG PHẪU THUẬT TRIỆT SẢN CHO MÈO

Đinh Phương Nam*, Nguyễn Thị Giang, Phạm Hồng Trang, Nguyễn Thị Ngọc, Nguyễn Văn Phương,
Trần Văn Nên, Nguyễn Văn Hải, Lê Văn Hùng, Ngô Thị Hạnh, Nguyễn Đức Trường, Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Thị Thanh Hương, Vũ Văn Dũng, Dương Thị Hà Ly

Khoa thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu so sánh hiệu quả của các phương pháp gây mê trong phẫu thuật ngoại khoa trên mèo được thực hiện tại Bệnh viện thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. 20 mèo thí nghiệm được chia làm 2 nhóm, trong đó 10 mèo được gây mê sử dụng phương pháp gây mê bay hơi (GMBH) bằng Isoflurane với liều lượng bắt đầu ở mức 2-3 % và duy trì ở mức 1-2 %, 10 mèo được gây mê sử dụng phương pháp tiêm tĩnh mạch bằng Zoletil 50 13mg/kgP. Kết quả nghiên cứu cho thấy mèo được gây mê bằng Isoflurane có sự ổn định hơn Zoletil về các chỉ số về thân nhiệt, tim mạch, huyết áp. Bên cạnh đó, chỉ số nồng độ Oxy trong máu ở nhóm gây mê bay hơi dao động trong khoảng 93 – 95 %, cao hơn rất nhiều so với phương pháp gây mê bằng Zoletil 50. Ngoài ra, mèo ở nhóm gây mê bay hơi không có phản xạ đau khi mổ và 80% mèo tỉnh sau gây mê không có biểu hiện hoảng loạn trong khi đó 70% số mèo tỉnh ở nhóm gây mê bằng Zoletil 50 có biểu hiện hoảng loạn. Như vậy, GMBH ổn định, an toàn và có thể trở thành phương pháp gây mê ưu tiên trong phẫu thuật ngoại khoa trên mèo.

Từ khóa:Mèo, gây mê, phẫu thuật triệt sản, Isoflurane, Zoletil 50.


ĐẶC TÍNH LIÊN QUAN ĐẾN TÍNH THÈM ĂN CỦA PACAP Ở VÙNG GIỮA BỤNG DƯỚI ĐỒI THÔNG QUA TĂNG BIỂU HIỆN AGRP Ở CHUỘT NHẮT

Thanh Trung Nguyen1, Yuki Kambe2, Atsuro Miyata2, Thanh Ha Nguyen Thi1, Van Phai Dam1

1Department of Pharmacology, Toxicology, Internal Medicine and Diagnostics, Faculty of Veterinary Medicine, Vietnam National University of Agriculture, Hanoi, Vietnam
2Department of Pharmacology, Graduate School of Medical and Dental Science, Kagoshima University, JapanAbstract

Tóm tắt:

PACAP được biểu hiện nhiều ở các nhân khác nhau ở vùng dưới đồi và có chức năng giúp kiểm soát sự thèm ăn. Gần đây, chúng tôi đã phát hiện ra neuropeptide PACAP làm tăng cảm giác thèm ăn ở chuột. Nhằm làm rõ hơn vai trò của tế bào thần kinh PACAP, trong nghiên cứu này, đã sử dụng phương pháp hóa sinh với thụ thể thiết kế được kích hoạt chọn lọc bằng hệ thống DREADDs và kiểm tra sự kết nối qua synap của các tế bào thần kinh bởi các vector biểu hiện synapsin. Kết quả chỉ ra việc kích hoạt hay ức chế có chọn lọc các tế bào thần kinh PACAP bởi DREADDs trong VMH, làm tăng hoặc giảm đáng kể lượng thức ăn thu nhận. Ngoài ra, nghiên cứu này chỉ ra sự kết nối giữa tế bào thần kinh PACAP trong VMH với tế bào thần kinh AgRP ở vùng Arc. Những kết quả này cho thấy tăng thu nhận thức ăn do gia tăng biểu hiện PACAP trong VMH thông qua điều chỉnh biểu hiện AgRP, và ức chế PACAP hoặc AgRP là ứng dụng lâm sàng quan trọng trong giám sát béo phì.

Từ khóa: PACAP, VMH, tính thèm ăn, AgRP, thu nhận thức ăn.


TỶ LỆ NHIỄM OTODECTES CYNOTIS Ở CHÓ MANG ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN THÚ Y HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ

Nguyễn Văn Phương*, Bùi Khánh Linh, Nguyễn Thị Hoàng Yến, Nguyễn Thị Hồng Chiên, Nguyễn Thị Ngọc, Trần Văn Nên

Khoa Thú y – Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Mục đích nghiên cứu này nhằm đánh giá tình hình nhiễm bệnh ghẻ tai do Otodectes cynotis gây ra ở chó mang đến khám tại Bệnh viện thú y Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Mẫu ráy tai chó được soi trên kính hiển vi để xác định tình trạng nhiễm ghẻ tai. Chó nhiễm ghẻ tai được phân thành 2 lô và điều trị thử nghiệm bằng Dexoryl và Frontline Plus. Kết quả kiểm tra mẫu ráy tai của chó trên kính hiển vi cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh ghẻ tai do Otodectes cynotis là 31,03%. Trong số những chó được kiểm tra dương tính với ghẻ tai, chó ở lứa tuổi từ 0 – 6 tháng nhiễm với tỷ lệ cao nhất, chiếm 46,97%; Nhóm chó ngoại nhiễm với tỷ lệ 38,41%, cao hơn so với tỷ lệ nhiễm ở nhóm chó nội, 20,21%; Theo hình thức nuôi, chó thả rông nhiễm với tỷ lệ cao nhất, 57,89%. Dexoryl và Frontline Plus đều mang lại hiệu quả điều trị cao lần lượt là 96,55% và 100% đối với bệnh ghẻ tai do Otodectes cynotis gây ra ở chó.

Từ khóa: Chó, Dexoryl, Frontline plus, ghẻ tai, Otodectes cynotis.


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU VỀ BỆNH VIÊM DA NỔI CỤC TRÊN BÒ TẠI HUYỆN HỮU LŨNG – LẠNG SƠN NĂM 2020

Nguyễn Văn Tâm1, Nguyễn Thị Thu Huyền,1, 2, Trịnh Thị Bích Ngọc1, Vũ Xuân Đăng1, Phạm Ngọc Thạch1, Nguyễn Văn Điệp1, Nguyễn Thị Lan1, Lê Văn Phan1*

1 Khoa thú y, Học viên Nông Nghiệp Việt Nam
2 Khoa Chăn nuôi- Thú y, Trường Đại học Nông- Lâm Bắc Giang

Tóm tắt:

Bệnh Viêm da nổi cục (VDNC) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên trâu bò do Capripoxvirus gây ra, bệnh gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi gia súc. Theo Cục Thú y, bệnh VDNC trên trâu bò xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào cuối tháng 10/2020 tại 2 tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn. Đến nay, bệnh đã lây lan ra ít nhất 10 tỉnh thành khác nhau của miền Bắc và miền Trung, và đã gây ra những thiệt hại kinh tế nặng nề cho các hộ chăn nuôi trâu bò. Trong nghiên cứu này, một số mẫu da của bò bị bệnh VDNC tại huyện Hữu Lũng – Lạng Sơn với các biểu hiện triệu chứng lâm sàng như sốt (>40ºC), chảy nước mũi, nước dãi, xuất hiện các nốt sần, u cục trên khắp vùng da trên cơ thể đã được thu thập. Kết quả chẩn đoán bằng phương pháp PCR cũng như giải trình tự gen cho thấy chủng virus gây bệnh thuộc chi Capripoxvirus. Kết quả nghiên cứu về bệnh tích vi thể của da bò mắc bệnh VDNC cho thấy hiện tượng biểu mô dày lên ở lớp sừng của vùng biểu bì, các nang lông, tuyến bã có hiện tượng tăng sinh, xuất hiện các thể vùi trong nội bào và xuất huyết vùng trung bì.

Từ khóa: Trâu bò, viêm da nổi cục, PCR, bệnh lý vi thể.


NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ CỦA VỊT MẮC BỆNH DERZSY’S DO PARVOVIRUS GÂY RA TẠI MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC, VIỆT NAM

Nguyễn Vũ Sơn1, Nguyễn Văn Giáp1, Nguyễn Hữu Nam1, Bùi Thị Tố Nga1, Bùi Trần Anh Đào1, Nguyễn Thị Hương Giang1, Nguyễn Thị Lan1, Nguyễn Văn Giáp2

1 Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2 Phòng AHTSO, Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, Chương Mỹ, Hà Nội

Tóm tắt:

Hội chứng lùn và mỏ ngắn (bệnh Derzsy’s) là một vấn đề nghiêm trọng đối với các nước châu Á, do gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho nghề nuôi thủy cầm. Nghiên cứu được thực hiện nhằm cung cấp thông tin lâm sàng, bệnh lý đại thể và bệnh lý vi thể của bệnh Derzsy’s trên đàn vịt nội thương phẩm từ 2 đến 6 tuần tuổi ở Bắc Giang, Thái Nguyên và Hưng Yên. Các con vịt có biểu hiện ăn kém và chảy nước mũi. Đồng thời, các dấu hiệu lâm sàng chủ yếu bao gồm chậm lớn, mỏ ngắn và xương chân ngắn lại cũng thường được quan sát. Kết quả mổ khám đại thể cho thấy các con vịt gặp vấn đề tràn dịch màng tim, xuất huyết cơ tim hoặc dịch tiết dạng sợi trên bề mặt tim và gan. Ruột non xuất huyết nhẹ và có thành ruột mỏng hơn. Kiểm tra mô bệnh học cho thấy các tổn thương điển hình ở tim với sự thoái hóa của các sợi cơ, dày lên, màng ngoài tim giãn rộng bởi các khoảng trống (phù nề) và thâm nhiễm của nhiều loại tế bào. Ở ruột non, tổn thương chủ yếu là thoái hóa và hoại tử các tế bào biểu mô ruột. Các tế bào lympho thâm nhiễm dương tính rõ với CD3. Các thể vùi (inclusion body) nằm rải rác được tìm thấy trong tuyến Lieberkuhn hoặc các tế bào biểu mô bị tổn thương.

Từ khóa: Bệnh Derzsy’s, bệnh lý vi thể, CD3, hoá mô miễn dịch, Parvovirus, vịt.


PHÂN LẬP VÀ ĐỊNH DANH VI KHUẨN RIEMERELLA ANATIPESTIFER TỪ THỦY CẦM NGHI MẮC BỆNH NHIỄM TRÙNG HUYẾT TẠI TỈNH HÀ NAM

Trương Quang Lâm, Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Thị Thu Hương, Đào Lê Anh, Trần Danh Sơn

1Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học Thú y, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ngô Xuân Quảng, Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội

Tóm tắt:

Mục tiêu của nghiên cứu này là phân lập, giám định và định danh bằng phương pháp PCR và MALDI-TOF MS đối với các chủng vi khuẩn Riemerella anatipestifer phân lập được từ vịt, ngan tại một số trang trại thuộc tỉnh Hà Nam. Tổng số 45 mẫu vịt nghi mắc bệnh được thu thập từ một số trang trại ở huyện Lý Nhân, Bình Lục, Duy Tiên với mẫu bệnh phẩm gồm: não, tim, gan, phổi, lách. 27 mẫu trong tổng số 45 mẫu vịt xét nghiệm cho thấy có các khuẩn lạc nghi ngờ với các đặc điểm như sau: kích thước nhỏ, trong, không dung huyết với đặc tính sinh hóa chính như catalase, oxidase dương tính, indol âm tính, không mọc trên thạch Macconkey. Kết quả định danh nhanh các chủng RA bằng phương pháp MALDI TOF MS sử dụng công nghệ khối phổ protein cho thấy 27/45 (60%) mẫu dương tính với vi khuẩn RA. Kết quả này tương đồng 100 % với kết quả giám định bằng phương pháp PCR.

Từ khóa: MALDI TOF MS; PCR; Phân lập; Riemerella anatipestifer; Thủy cầm.


NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG GLYCEROLORVUS ES PASTE (OEP) THÍCH HỢP TRONG MÔI TRƯỜNG ĐÔNG LẠNH NHANH TINH DỊCH THỎ

Ngô Thành Trung*, Trần Thị Chi, Vũ Hải Yến1, Tạ Thị Hồng Quyên, Vũ Thị Loan, Ngô Thị Minh Khánh, Vũ Việt Thắng

1 Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu này được tiến hành nhằm xác định hàm lượng glycerol và Orvus Es Paste (OEP) thích hợp trong môi trường đông lạnh tinh thỏ. Các mẫu tinh của sáu thỏ đực giống New Zealand được pha loãng trong môi trường Tris-Citrate-Glucose có bổ sung hàm lượng glycerol và OEP thử nghiệm là 0; 4; 6; 8% và 0; 0,5; 1,0; 1,5% và được đông lạnh nhanh trong cọng rạ 1 ml. Sau 30 ngày bảo quản trong nitơ lỏng, các mẫu tinh được giải đông ở 37oC trong 90 giây và được so sánh hoạt lực và tỷ lệ tinh trùng kỳ hình sau giải đông, thí nghiệm được lặp lại sáu lần. Ba mươi thỏ cái New Zealand được phối tinh nhân tạo hai lần cách nhau sáu giờ bằng tinh đông lạnh, mỗi con được phối 1 cọng tinh/lần và được tiêm 1 µg buserelin acetate ngay sau khi phối liều một. Kết quả cho thấy việc bổ sung 6% glycerol và 1% OEP trong môi trường đông lạnh tinh thỏ cho hiệu quả đông lạnh tinh tốt hơn với hoạt lực tinh trùng của các mẫu tinh sau giải đông tương ứng là 0,25 ± 0,03 và 0,35 ± 0,07 điểm. Tỷ lệ đậu thai của thỏ cái được phối tinh đông lạnh là 70% và số con sơ sinh trung bình/ổ là 6,1 ± 0,5 con.

Từ khóa: thụ tinh nhân tạo, tinh thỏ, đông lạnh tinh trùng.


KẾT QUẢ PHÁT HIỆN AVIAN NEPHRITIS VIRUS (ANV) Ở GÀ TẠI VIỆT NAM

Nguyễn Văn Giáp1, Đào Đoan Trang2, Lê Thị Trinh3, Nguyễn Quang Đức3, Cao Thị Bích Phượng1, Huỳnh Thị Mỹ Lệ1*

1 Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2 Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi, Viện Chăn nuôi
3 Công ty cổ phần Thú y xanh (Greenvet)

Tóm tắt:

Bệnh viêm thận ở động vật thuộc lớp chim (avian nephritis) là một bệnh truyền nhiễm gây ra bởi một số loại virus, trong đó có virus gây bệnh Viêm phế quản truyền nhiễm (Infectious bronchitis virus, IBV) và Avian nephritis virus (ANV). Ở Việt Nam, bệnh tích viêm thận thường được chẩn đoán liên quan tới IBV. Trong nghiên cứu này, bằng kỹ thuật RT-PCR, ANV đã được phát hiện ở ca bệnh có bệnh tích viêm thận tích muối urat và âm tính với IBV. Kết quả giải mã và phân tích trình tự gen ORF1a của chủng G19.24.2 cho thấy chủng này tương đồng 95,3% so với chủng ANV/CHN/BJCP510-2/2018 (MN732558) phát hiện tại Trung Quốc năm 2018. Dựa vào đặc điểm phân nhánh của cây phát sinh chủng loại, chủng ANV phát hiện trong nghiên cứu được xếp vào genotype 7.

Từ khóa: Avian nephritis virus, RT-PCR, đặc điểm sinh học phân tử.


BƯỚC ĐẦU XÁC ĐỊNH DUCK CIRCOVIRUS Ở VỊT TẠI HÀ NỘI NĂM 2021

Đồng Văn Hiếu*, Trần Thị Hương Giang, Đồng Thị Hồng Nhung, Lê Văn Phan, Dương Văn Nhiệm, Lại Thị Lan Hương, Lê Huỳnh Thanh Phương, Nguyễn Thị Lan

1 Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Mục đích của nghiên cứu này là xác định sự hiện diện và đặc điểm sinh học phân tử của một số chủng duck circovirus ở vịt tại Hà Nội. Tổng cộng 31 mẫu gộp gồm não, tim, gan, lách, phổi, và túi Fabricius được thu thập từ 7 trang trại vịt trên địa bàn các Huyện Thường Tín, Ứng Hòa, và Phú Xuyên từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2021. Mẫu được thu thập từ các vịt có biểu hiện nghi mắc bệnh gây ra do duck circovirus. Phương pháp polymerase chain reaction được sử dụng để phát hiện genome của virus. Các mẫu dương tính được lựa chọn giải trình tự một phần khung đọc mở (open reading frame) 1. Kết quả cho thấy, genome của virus được xác định trong 22 mẫu (70,97%) trong tổng số 31 mẫu nghiên cứu. Có 6/7 (85,71%) số trại cho kết quả dương tính. Kết quả phân tích trình tự gen cho thấy, tỷ lệ tương đồng nucleotide giữa 3 chủng virus trong nghiên cứu này dao động từ 99,48% đến 99,87%. Kết quả phân tích cây phả hệ thể hiện rằng, các chủng virus trong nghiên cứu này cùng thuộc genotype 1 và có mối quan hệ di truyền gần với các chủng virus ở Trung Quốc.

Từ khóa: Genotype, Duck circovirus, Hà Nội, PCR, Vịt.


NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC BỆNH DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI (ASF) TẠI HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Trần Thị Hà1, Trương Hà Thái2, Lại Thị Lan Hương3, Nguyễn Văn Giáp2, Chu Thị Thanh Hương2

1 Khoa chăn nuôi thú y. Trường trung cấp Nông nghiệp Thái Bình
2 Bộ môn Vi sinh vật – Truyền nhiễm, Khoa Thú y, Học viện nông nghiệp Việt nam
3 Bộ môn Giải phẫu – Tổ chức, Khoa Thú y, Học viện nông nghiệp Việt nam

Tóm tắt:

Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) lần đầu tiên xảy ra trên đàn lợn nuôi tại tỉnh Thái Bình (Việt Nam). Tại Quỳnh Phụ, Thái Bình, dịch bắt đầu từ ngày 26/2/2019 rồi lan ra toàn huyện. Tỷ lệ ốm bình quân của cả huyện là 32%. Tất cả lợn ốm đều được đem đi tiêu hủy. Tại các trại theo dõi, bệnh diễn ra mạnh nhất ở các nông hộ nhỏ, lẻ (71,43%) với tỷ lệ mắc cao nhất (91,95%). Trong khi đó, 33,33% trang trại quy mô vừa và lớn bị mắc bệnh với tỷ lệ lợn ốm là thấp nhất (41,23%). Tỷ lệ ốm của bệnh DTLCP theo đối tượng lợn tại huyện Quỳnh Phụ lần lượt là lợn đực (57,14%), lợn thịt (41,95%), lợn nái ( 40,63 %) và lợn con (39,01%). Triệu chứng, bệnh tích của lợn mắc bệnh DTLCP tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tương đối giống nhau ở các đối tượng lợn. Việc xác định virus trên một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sự lây lan, phát tán của bệnh trên đàn lợn nuôi tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được tiến hành bằng phản ứng PCR đã được xác định cho thấy virus tồn tại trên các yếu tố trung gian trong trại và có thể gây bệnh cho lợn. Từ lợn bệnh, virus được xác định và giải trình tự gen cho thấy có đoạn gen tương đồng với các chủng gây bệnh ở các vùng khác ở Việt Nam và trên thế giới. Tóm lại, DTLCP là một dịch bệnh nguy hiểm, diễn biến nhanh, cấp tính, có đặc điểm dịch tễ khá phức tạp tại Việt Nam. Việc tiếp tục tiến hành nghiên cứu về tình hình mắc bệnh ở các địa phương khác trong tỉnh, cũng như các tỉnh khác trong cả nước để so sánh kết quả giữa các địa phương khác nhau từ đó có cái nhìn tổng quan nhất là rất cần thiết.

Từ khóa: Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP), triệu chứng, bệnh tích, giải trình tự gen, Quỳnh Phụ, Thái Bình.


ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG MỘT SỐ DÒNG LÚA CẨM MỚI CHỌN TẠO

Trần Văn Quang1, Trần Thiện Long1, Lê Văn Huy2, Nguyễn Thị Kim Dung2, Nguyễn Quang Tin3, Trần Mạnh Cường3, Trần Thị Huyền2, Phạm Văn Thuyết4

1 Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2 Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
3 Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và PTNT 4 Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và PTNT

Tóm tắt:

Ở Việt Nam, các giống lúa cẩm có thời gian sinh trưởng ngắn, không phản ứng quang chu kỳ, năng suất cao, chất lượng tốt, hàm lượng anthocyanin cao và nhiễm nhẹ sâu bệnh được quan tâm mở rộng sản xuất. Thí nghiệm đánh giá đặc điểm nông sinh học, năng suất và chất lượng của một số dòng lúa cẩm mới được thực hiện tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Cây trồng, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Kết quả đánh giá 25 dòng đã lựa chọn được 7 dòng lúa cẩm có triển vọng là C1, C12, C14, C18, C19, C21 và C25. Các dòng triển vọng có thời gian sinh trưởng 109 – 117 ngày trong vụ Mùa, năng suất thực thu từ 6,15 – 8,05 tấn/ha, tỷ lệ gạo xay 74 – 80%, chiều dài hạt gạo từ 6,4 – 6,7 mm, vỏ cám màu đen. Phân tích hàm lượng amylose, anthocyanin và gen liên quan đến hàm lượng anthocyanin của 7 dòng triển vọng đã chọn được dòng lúa nếp cẩm ưu tú C1 có hàm lượng amylose đạt 3,88%, hàm lượng anthocyanin đạt 619 mg/100g chất khô và mang cả 3 gen Kala1, Kala3, Kala4. Như vậy, chọn tạo giống lúa cẩm có hàm lượng anthocyanin cao cần sử dụng chỉ thị phân tử SSR để kiểm tra sự có mặt của 3 gen Kala1, Kala3 Kala4.

Từ khóa: Lúa cẩm, lúa nếp cẩm, hàm lượng anthocyanin, gen Kala1, Kala3 Kala4.


PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN VÀ ĐỊNH DANH CHỦNG VI KHUẨN ENTEROCOCCUS FAECIUM HN1 CÓ KHẢ NĂNG SINH BACTERIOCIN

Phạm Hồng Hiển1, Dương Văn Hoàn2, Trần Thị Đào2, Phạm Thị Dung2, Nguyễn Thị Thu2, Phạm Thị Thu Trang2, Nguyễn Xuân Cảnh2*

1Ban Khoa học và hợp tác quốc tế, Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam
2Khoa Công nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định được chủng vi khuẩn lactic có khả năng sinh bacteriocin, định hướng ứng dụng như chất bổ sung trong thức ăn nuôi trồng thủy sản nhằm thay thế việc sử dụng chất kháng sinh như hiện nay. Trên môi trường MRS, bằng phương pháp cấy trải kết hợp với quan sát đặc điểm hình thái khuẩn lạc, 16 chủng vi khuẩn lactic đã được phân lập từ 18 mẫu ruột cá được thu thập ở các địa điểm khác nhau. Trong đó 08 chủng có khả năng sinh bacteriocin và thể hiện hoạt tính kháng khuẩn với 02 chủng vi khuẩn kiểm định (Salmonella sp. và Escherichia coli). Trong số đó, chủng HN1 được phân lập từ mẫu ruột cá Rô Phi thu thập ở Hà Nội có khả năng sinh bacteriocin mạnh nhất và thể hiện hoạt tính kháng khuẩn mạnh đồng thời với vi khuẩn Salmonella sp. và Escherichia coli với đường kính vòng kháng khuẩn lần lượt là 16 mm và 15 mm. Môi trường MRS có bổ sung glucose và cao nấm men với tỉ lệ 3%, chủng HN1 có khả năng sinh trưởng và sinh bacteriocin cao nhất. Kết hợp các đặc điểm hình thái, sinh lý, sinh hoá và phân tích trình tự gen mã hóa vùng 16S rRNA, chủng HN1 đã được xác định là Enterococcus faecium HN1.

Từ khóa: Bacteriocin, Enterococcus, thuỷ sản.


ĐỘNG VẬT NỔI VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÙNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CỦA TỈNH SÓC TRĂNG

Nguyễn Thị Kim Liên1, Ậu Văn Hóa1, Trần Trung Giang1, Vũ Ngọc Út1 và Huỳnh Trường Giang1

1Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ

Tóm tắt:

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của hàm lượng dinh dưỡng đến sự phân bố của động vật nổi vùng nuôi trồng thủy sản tỉnh Sóc Trăng. Tổng cộng có 4 đợt thu mẫu từ tháng 3-12/2019. Ở mỗi đợt, các yếu dinh dưỡng, định tính và định lượng động vật nổi được thu tại 10 vị trí ở vùng nuôi trồng thủy sản. Kết quả cho thấy thành phần loài động vật nổi vào mùa mưa cao hơn mùa khô. Mật độ đạt cao nhất ở các điểm trên sông nhánh với sự ưu thế của Protozoa. Tổng chất rắn lơ lửng (TSS), tổng đạm (TN), phosphate (PO43-) và tổng lân (TP) tương quan không chặt chẽ với thành phần của động vật nổi. Tuy nhiên, hàm lượng nitrate (NO3) tương quan thuận có ý nghĩa thống kê (P<0,05) với thành phần của Rotifera, Cladocera và Copepoda. Kết quả của nghiên cứu là nguồn dữ liệu cơ bản nhằm hỗ trợ trong việc quản lý nguồn nước mặt và phát triển ổn định nghề nuôi trồng thủy sản nước lợ ở tỉnh Sóc Trăng.

Từ khóa: Động vật nổi, hàm lượng dinh dưỡng, vùng nuôi trồng thủy sản.



BÌA TẠP CHÍ KHNNVN